Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 304
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Hiệu quả phẫu thuật Miles nội soi cắt tầng sinh môn tư thế nằm sấp trong điều trị ung thư trực tràng thấp (01/07/2026)

Ung thư đại - trực tràng là một trong những loại ung thư phổ biến nhất trên phạm vi toàn cầu, hiện đứng thứ ba trong nhóm mười bệnh ung thư thường gặp nhất ở cả hai giới, với hơn 1,9 triệu ca mắc mới và trên 900.000 trường hợp tử vong mỗi năm. Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê ung thư toàn cầu GLOBOCAN năm 2022, ung thư đại trực tràng xếp hàng thứ tư ở cả hai giới, đứng thứ tư ở nam giới và thứ ba ở nữ giới, với gần 17.000 ca mắc mới, chiếm 9,3% tổng số các loại ung thư. Bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 50-60, với tỷ lệ nam mắc bệnh cao hơn nữ khoảng 1,5 lần.

Trong nhóm bệnh nhân ung thư trực tràng, ung thư trực tràng thấp - khối u nằm gần rìa hậu môn - luôn là một thách thức lớn đối với các phẫu thuật viên bởi đặc điểm giải phẫu vùng chậu hẹp và phức tạp, khó bảo tồn cơ thắt hậu môn, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ tái phát tại chỗ cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của người bệnh sau điều trị. Từ năm 1908, phẫu thuật cắt trực tràng ngả bụng - tầng sinh môn do William Ernest Miles đề xuất đã trở thành tiêu chuẩn vàng cho những trường hợp u cách rìa hậu môn từ 5 cm trở xuống. Đến năm 1982, kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) do Richard John Heald phát triển đã giúp giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ xuống dưới 5% và nâng tỷ lệ sống sau 5 năm lên tới 87,5%. Tuy nhiên, ngay cả khi áp dụng TME kết hợp phẫu thuật Miles kinh điển, kết quả ung thư học vẫn chưa cải thiện rõ rệt so với phẫu thuật cắt trước, do tỷ lệ vỡ khối u trong mổ còn cao và diện cắt vòng quanh dương tính vẫn ở mức đáng lo ngại.

 

Kết quả siêu âm bụng.

Bước ngoặt quan trọng đến vào năm 2010, khi hai tác giả Torbjorn Holm và Philip Quirke giới thiệu kỹ thuật cắt tầng sinh môn ngoài cơ nâng ở tư thế nằm sấp. Cách tiếp cận này đã cho thấy hiệu quả rõ rệt về mặt ung thư học: tỷ lệ vỡ khối u trong mổ giảm từ 28,2% xuống còn 8,2%, tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính giảm từ 49,6% xuống 20,3%, tỷ lệ tái phát tại chỗ giảm còn 13,5% và tỷ lệ sống 5 năm tăng lên 68,5%. Nhờ những kết quả ấn tượng đó, kỹ thuật này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi tại nhiều trung tâm phẫu thuật lớn trên thế giới.

Dù vậy, tại Việt Nam, các nghiên cứu về ung thư trực tràng trong giai đoạn 2008-2022 chủ yếu tập trung ở khu vực miền Bắc, miền Trung và Đông Nam Bộ. Trong khi đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long - nơi sinh sống của gần 18 triệu dân - vẫn còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này. Các nghiên cứu trong nước về phẫu thuật Miles nội soi trước đây chủ yếu thực hiện cắt tầng sinh môn ở tư thế nằm ngửa, cho kết quả khả quan về giảm chảy máu, giảm tổn thương tạng trong ổ bụng và giảm tỷ lệ vỡ khối u, nhưng biến chứng vùng tầng sinh môn vẫn là vấn đề chưa được giải quyết triệt để. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam áp dụng và đánh giá kỹ thuật cắt tầng sinh môn ở tư thế nằm sấp cho bệnh nhân ung thư trực tràng thấp. Xuất phát từ khoảng trống đó, cùng với vị thế là một trong những trung tâm điều trị ung thư trực tràng có số lượng bệnh nhân phẫu thuật hằng năm tương đối cao tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã triển khai đề tài nhằm xác định giá trị thực tiễn của kỹ thuật mới này, góp phần chuẩn hóa quy trình điều trị ung thư trực tràng thấp tại Việt Nam.

Đề tài được thực hiện trên 45 trường hợp bệnh nhân ung thư trực tràng thấp, trải qua hai giai đoạn nghiên cứu: hồi cứu từ tháng 10/2018 đến tháng 10/2021 và tiến cứu từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2024, với hai mục tiêu chính: đánh giá kết quả của phẫu thuật Miles nội soi cắt tầng sinh môn ngoài cơ nâng ở tư thế nằm sấp, và xác định tỷ lệ tái phát, di căn xa cũng như thời gian sống thêm của người bệnh sau phẫu thuật.

Về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 62,2 tuổi. Triệu chứng khiến người bệnh nhập viện phổ biến nhất là đi tiêu ra máu, với thời gian mắc bệnh trung bình trước khi được chẩn đoán là 5,7 tháng. Đáng chú ý, vị trí khối u trong nghiên cứu này rất thấp, cách rìa hậu môn trung bình chỉ 1,6 cm - đây chính là nhóm bệnh nhân khó khăn nhất trong điều trị phẫu thuật bảo tồn cơ thắt. Nội soi đại tràng phát hiện khối u ở toàn bộ 100% trường hợp, trong đó dạng sùi chiếm tỷ lệ cao nhất. Chụp cắt lớp vi tính vùng bụng chậu có cản quang phát hiện khối u đơn thuần ở 44,4% trường hợp và phát hiện cả khối u lẫn di căn hạch ở 53,3% trường hợp; chỉ số CEA trước mổ tăng ở 31,1% bệnh nhân. Về mô bệnh học, số hạch nạo vét được trung bình là 16,8 hạch, trong đó số hạch di căn trung bình là 1,7 hạch; giai đoạn u T3 chiếm tỷ lệ cao nhất, và phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn II và III sau mổ. Tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính ghi nhận được là 28,9%.

Kết quả điều trị của nghiên cứu cho thấy nhiều tín hiệu tích cực. Thời gian phẫu thuật trung bình là 259,4 ± 49,5 phút - một khoảng thời gian hợp lý đối với một kỹ thuật phẫu thuật phức tạp, đòi hỏi phối hợp nhịp nhàng giữa hai kíp mổ vùng bụng và vùng tầng sinh môn. Tỷ lệ biến chứng chung của phẫu thuật là 26,6%, trong đó biến chứng sớm chủ yếu là nhiễm trùng vết mổ tầng sinh môn, chiếm 17,8%; các biến chứng muộn như thoát vị cạnh hậu môn nhân tạo và tụ dịch vùng tầng sinh môn chỉ chiếm tỷ lệ thấp, mỗi loại 4,4%. Không ghi nhận trường hợp nào tử vong do biến chứng phẫu thuật nghiêm trọng - đây là một kết quả an toàn đáng khích lệ đối với một kỹ thuật còn khá mới tại Việt Nam.

Về kết quả ung thư học, với thời gian theo dõi trung bình 21,8 tháng, tỷ lệ tái phát chung của nhóm nghiên cứu là 13,3%. Tỷ lệ sống còn không bệnh tại các thời điểm 1 năm, 2 năm và 3 năm lần lượt đạt 97,2%, 85,5% và 76%; trong khi tỷ lệ sống còn toàn bộ tương ứng đạt 100%, 95,2% và 85,7%. Tính đến thời điểm kết thúc nghiên cứu, tỷ lệ tái phát tại chỗ, di căn xa và tử vong lần lượt là 6,6%, 6,6% và 4,4%. Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa diện cắt vòng quanh dương tính và nguy cơ tái phát tại chỗ: những trường hợp có diện cắt vòng quanh dương tính có tỷ lệ tái phát tại chỗ cao hơn rõ rệt so với nhóm âm tính; đồng thời, giai đoạn u T3 có tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính cao hơn so với giai đoạn T2. Đặc biệt, ở nhóm bệnh nhân có di căn hạch (chiếm 42% tổng số ca), tỷ lệ diện cắt vòng quanh dương tính cao gấp 8,5 lần so với nhóm không di căn hạch, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,005).

Từ những kết quả trên, nhóm nghiên cứu khẳng định phẫu thuật Miles nội soi cắt tầng sinh môn ở tư thế nằm sấp là một kỹ thuật khả thi và an toàn, mang lại tỷ lệ tái phát ung thư ở mức chấp nhận được, đặc biệt phù hợp áp dụng cho những trường hợp khối u ở giai đoạn T3, T4. Kỹ thuật này góp phần bổ sung thêm một lựa chọn điều trị mới, an toàn và hiệu quả cho các phẫu thuật viên trong xử trí ung thư trực tràng thấp tại Việt Nam, đặc biệt tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long - nơi trước đây còn thiếu vắng những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này.

Trên cơ sở kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị quan trọng: cần chú ý kỹ thuật cắt u để tránh diện cắt vòng quanh dương tính, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân giai đoạn T3; tăng cường tái khám định kỳ đối với những bệnh nhân có diện cắt vòng quanh dương tính do nguy cơ tái phát tại chỗ cao hơn; đồng thời cần tiếp tục triển khai các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá chính xác hơn hiệu quả lâu dài của kỹ thuật này trên bệnh nhân Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã được công bố qua 3 bài báo khoa học trong nước và góp phần đào tạo thành công 1 tiến sĩ chuyên ngành ngoại khoa.

Xét trên bình diện chuyên môn, kết quả nghiên cứu cũng góp phần củng cố thêm bằng chứng khoa học cho nhận định rằng tư thế nằm sấp giúp phẫu thuật viên có trường quan sát rõ ràng hơn đối với vùng đáy chậu, từ đó thao tác bóc tách chính xác hơn, hạn chế tổn thương các cấu trúc lân cận như niệu đạo, âm đạo hay thần kinh vùng chậu so với tư thế nằm ngửa kinh điển. Việc phối hợp nhịp nhàng giữa kíp mổ nội soi ổ bụng và kíp mổ vùng tầng sinh môn trong cùng một cuộc mổ cũng là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của kỹ thuật, đòi hỏi cơ sở y tế thực hiện phải có đủ năng lực về trang thiết bị, nhân lực và kinh nghiệm phẫu thuật nội soi chuyên sâu.

Đề tài "Nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật Miles nội soi cắt tầng sinh môn tư thế nằm sấp trong điều trị ung thư trực tràng thấp" do Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ chủ trì thực hiện, dưới sự đồng chủ nhiệm của TS.BS. Nguyễn Văn Tuấn và PGS.TS. Phạm Văn Năng. Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, không chỉ khẳng định giá trị của một kỹ thuật phẫu thuật mới trong điều trị ung thư trực tràng thấp mà còn góp phần lấp đầy khoảng trống dữ liệu khoa học về lĩnh vực này tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tạo tiền đề cho việc chuẩn hóa và nhân rộng kỹ thuật trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam, hướng tới nâng cao chất lượng điều trị và cải thiện tiên lượng sống cho người bệnh ung thư trực tràng thấp trong thời gian tới.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng.