Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 763 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Chính sách tài khóa thúc đẩy phát triển nền kinh tế xanh tại Việt Nam (12/05/2026)
Trong những năm gần đây, phát triển kinh tế xanh đã trở thành xu hướng tất yếu của thế giới trước những thách thức ngày càng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học. Nếu như trước đây mục tiêu tăng trưởng kinh tế chủ yếu tập trung vào mở rộng quy mô sản xuất và gia tăng GDP thì hiện nay, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng phát triển bền vững mới là những tiêu chí được các quốc gia ưu tiên hàng đầu. Các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt là mục tiêu phát thải ròng bằng "0" (Net Zero), cùng với các cơ chế thương mại xanh như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), yêu cầu báo cáo phát triển bền vững (ESG) hay sự hình thành thị trường carbon toàn cầu đang tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức phát triển của các nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Là quốc gia có độ mở kinh tế lớn, kim ngạch xuất khẩu cao và nhiều ngành sản xuất phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch, Việt Nam chịu tác động trực tiếp từ các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế. Nếu không chuyển đổi kịp thời sang mô hình tăng trưởng xanh, doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với chi phí tuân thủ ngày càng cao, nguy cơ mất lợi thế cạnh tranh cũng như khó tiếp cận các nguồn vốn đầu tư quốc tế. Vì vậy, phát triển kinh tế xanh không chỉ là yêu cầu về bảo vệ môi trường mà còn là giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn.
Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; cam kết đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 tại Hội nghị COP26. Tuy nhiên, để hiện thực hóa các mục tiêu này đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chính sách kinh tế, trong đó chính sách tài khóa được xem là một trong những công cụ điều tiết quan trọng và có tác động trực tiếp nhất đến quá trình chuyển đổi xanh.
Chính sách tài khóa không chỉ thực hiện chức năng điều tiết thu – chi ngân sách mà còn tạo ra những tín hiệu kinh tế nhằm định hướng hành vi của doanh nghiệp và người dân. Thông qua hệ thống thuế, phí môi trường, các chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ tài chính và đầu tư công, Nhà nước có thể khuyến khích phát triển các ngành kinh tế xanh, hạn chế những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ, sử dụng năng lượng sạch và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Chính vì vậy, nghiên cứu về chính sách tài khóa thúc đẩy phát triển nền kinh tế xanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, nhóm nghiên cứu thuộc Học viện Chính sách và Phát triển đã triển khai đề tài "Chính sách tài khóa thúc đẩy phát triển nền kinh tế xanh tại Việt Nam" nhằm đánh giá toàn diện cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế, thực trạng chính sách tài khóa xanh ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Tỷ trọng và tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường giai đoạn 2011-2023.
Một trong những đóng góp quan trọng của nghiên cứu là hệ thống hóa tương đối đầy đủ những vấn đề lý luận về nền kinh tế xanh và chính sách tài khóa xanh. Theo đó, kinh tế xanh không chỉ được hiểu là mô hình tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường mà còn hướng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính và bảo đảm công bằng xã hội. Trong mô hình này, chính sách tài khóa đóng vai trò là cầu nối giữa mục tiêu phát triển kinh tế với mục tiêu bảo vệ môi trường thông qua việc điều chỉnh hành vi thị trường và phân bổ nguồn lực.
Nhóm nghiên cứu chỉ ra ba nhóm chức năng cơ bản của chính sách tài khóa xanh:
Thứ nhất, thông qua các công cụ thuế, phí và định giá carbon, Nhà nước có thể nội hóa các chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm, từ đó buộc doanh nghiệp phải tính toán đầy đủ chi phí gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất. Đây là cơ sở quan trọng để thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giảm tiêu hao năng lượng và sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường.
Thứ hai, chính sách chi ngân sách nhà nước và đầu tư công có vai trò tái phân bổ nguồn lực cho các lĩnh vực ưu tiên như năng lượng tái tạo, giao thông xanh, xử lý chất thải, phát triển đô thị thông minh, nông nghiệp bền vững và bảo tồn hệ sinh thái. Khi nguồn lực tài chính công được sử dụng hiệu quả, Nhà nước có thể tạo ra tác động lan tỏa, thu hút thêm nguồn vốn từ khu vực tư nhân và các tổ chức tài chính quốc tế.
Thứ ba, chính sách tài khóa còn góp phần hoàn thiện khuôn khổ thể chế cho phát triển kinh tế xanh thông qua việc xây dựng ngân sách xanh, thúc đẩy tài chính xanh, hình thành thị trường carbon và nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân sách nhà nước.
Bên cạnh việc làm rõ cơ sở lý luận, nghiên cứu còn phân tích kinh nghiệm của nhiều quốc gia có quá trình chuyển đổi xanh thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Đây đều là những quốc gia đã sử dụng hiệu quả các công cụ tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng xanh.
Tại Nhật Bản, Chính phủ tập trung đầu tư ngân sách lớn cho phát triển công nghệ xanh, năng lượng tái tạo và đổi mới sáng tạo, đồng thời triển khai các chính sách thuế môi trường nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Hàn Quốc lại nổi bật với chương trình "Tăng trưởng xanh" được triển khai đồng bộ từ đầu tư công, cải cách thuế đến phát triển thị trường tài chính xanh. Trong khi đó, Trung Quốc đã từng bước xây dựng hệ thống thuế môi trường, phát triển thị trường mua bán quyền phát thải carbon và huy động quy mô lớn nguồn lực tài chính phục vụ chuyển đổi năng lượng.
Qua phân tích kinh nghiệm quốc tế, nhóm nghiên cứu cho rằng điểm chung của các quốc gia thành công là không coi chính sách tài khóa chỉ là công cụ thu ngân sách mà sử dụng nó như một đòn bẩy để định hướng phát triển dài hạn. Các chính sách được thiết kế đồng bộ giữa thuế, chi tiêu công, đầu tư công, tín dụng xanh và cải cách thể chế, tạo thành hệ sinh thái hỗ trợ phát triển kinh tế xanh một cách bền vững.
Đối với Việt Nam, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá toàn diện thực trạng chính sách tài khóa liên quan đến phát triển kinh tế xanh trong giai đoạn 2011-2025. Kết quả cho thấy hệ thống chính sách đã có nhiều bước tiến đáng ghi nhận. Việt Nam đã ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường, triển khai nhiều chính sách ưu đãi thuế đối với lĩnh vực năng lượng tái tạo, dành một phần ngân sách cho các hoạt động bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đồng thời, nhiều chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và biến đổi khí hậu cũng đã được ban hành, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho quá trình chuyển đổi xanh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều hạn chế cần sớm được khắc phục. Hệ thống thuế và phí môi trường hiện nay vẫn chưa phản ánh đầy đủ chi phí gây ô nhiễm; phạm vi điều tiết còn hẹp; mức thuế chưa đủ mạnh để tạo động lực thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng. Chi ngân sách dành cho tăng trưởng xanh còn phân tán, chưa hình thành cơ chế đánh giá hiệu quả đầu tư theo tiêu chí môi trường, trong khi việc gắn kết nguồn thu từ thuế môi trường với các hoạt động bảo vệ môi trường vẫn còn hạn chế.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu biên soạn bảng nguồn và sử dụng kỹ thuật số để đo lường nền... (29/06/2026)
- Tác động của cấu trúc thị trường tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở... (26/06/2026)
- Công tác quản lý hoạt động phổ biến phim trên không gian mạng (24/06/2026)
- Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2025: Nỗ lực hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã... (22/06/2026)
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và đề xuất giải pháp phòng chống bệnh... (18/06/2026)
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó mối đe dọa an ninh môi trường do... (17/06/2026)
