Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 1362 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Điều tra đánh giá và đề xuất giải pháp sử dụng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh (04/09/2026)
Trong các nguồn lực phát triển KT- XH theo hướng bền vững, KH&CN là một thành tố đóng vai trò rất quan trọng. KH&CN đẩy nhanh tiến độ hướng tới phát triển bền vững; cải thiện an ninh lương thực, dinh dưỡng và phát triển nông nghiệp; thúc đẩy tiếp cận và sử dụng năng lượng hiệu quả; thúc đẩy đa dạng hóa và chuyển đổi kinh tế, năng suất cạnh tranh; thúc đẩy hòa nhập xã hội; đối phó với bệnh tật và cải thiện sức khỏe; và cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên và giáo dục và đào tạo. Trong những năm gần đây, NNL KH&CN của Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể về số lượng và chất lượng, tuy nhiên quy mô NL NC&PT của Việt Nam vẫn còn rất nhỏ bé so với các nước có nền KH&CN phát triển. Với mục tiêu đến năm 2030, xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, phát triển kinh tế số dựa trên KH&CN và NNL chất lượng cao, là trung tâm du lịch quốc tế, là một trong những cực tăng trưởng của miền Bắc... Yêu cầu nhiệm vụ phát triển NNL, nhất là NNL chất lượng cao là một khâu đột phá chiến lược quyết định nhằm thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn mới. Đặc biệt trong xu thế Việt Nam và thế giới bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với nền tảng là trí tuệ nhân tạo, mục tiêu phát triển kinh tế tập trung chủ yếu vào sản xuất thông minh, thân thiện môi trường, việc đảm bảo NNL đặc biệt là NNL chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định trong phát triển kinh tế - xã hội.
NNL KH&CN (tổng thể số lượng, chất lượng và cơ cấu con người có trình độ cao đẳng/đại học trở lên trong một lĩnh vực KH&CN) có vai trò vô cùng quan trọng trong các nguồn lực KH&CN. NNL KH&CN, đăc biệt là NNL có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp là điều kiện cơ bản, quyết định đến trình độ phát triển KTXH trong mọi giai đoạn khác nhau của quốc gia. NL có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp sẽ là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện những bước nhảy vọt và rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, lạc hậu về KH&CN và quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi khu vực, mỗi quốc gia.
Đứng trước yêu cầu đó, Trường Đại học Ngoại Thương tiến hành triển khai đề tài Điều tra đánh giá và đề xuất giải pháp sử dụng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh do ThS. Lê Thị Ngọc Lan làm chủ nhiệm. Đề tài triển khai từ 7/2019 đến 6/2021.
Từ nghiên cứu đánh giá thực trạng nguồn nhân lực khoa học công nghệ tỉnh Quảng Ninh, nhóm nghiên cứu đã đánh giá những kết quả đạt được trên các lĩnh vực sau:
(1) Về mặt cơ chế chính sách phát triển và sử dụng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Nhiều cơ chế chính sách đã được ban hành một cách kịp thời, đem lại hiệu quả cao trong phát triển NNL như Nghị quyết 15, chính sách đào tạo bồi dưỡng các bộ, công chức, viên chức (Đề án 293), Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao,.. Các cơ chế, chính sách này đã góp phần làm thay đổi cả về số lượng và chất lượng của NNL KH&CN của tỉnh. Chính sách đào tạo nghề khu vực nông thôn của Tỉnh đã đảm bảo được chất lượng và ngành nghề đào tạo khá phù hợp với nguồn nhân lực hiện có, góp phần cải thiện đời sống cho lao động nông thôn và làm thay đổi bộ mặt kinh tế tại các vùng, miền của Tỉnh.
Chính sách tạo việc làm của Tỉnh thời gian qua hoàn toàn phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh và theo tinh thần Nghị quyết số 15-NQ/TU, cả về hình thức đào tạo, tạo việc làm, cũng như các hoạt động nhằm phát triển nguồn nhân lực, góp phần thúc đầy phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh.
Đề án 293 của Tỉnh đã đem lại những kết quả nhất định trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện nguồn nhân lực của Tỉnh, đặc biệt là nguồn nhân lực trong khu vực công. Một số thành công mà Đề án 293 đem lại là số lượng lớp đào tạo bồi dưỡng và số lượt người được đào tạo tăng lên qua các năm giai đoạn (2015-2019). Đặt biệt, đội ngũ cán bộ đương chức và trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp sở và cấp phòng, cơ bản đã được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ theo yêu cầu tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm. Nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch. Cán bộ, công chức đã được học tập ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, bao gồm: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Úc, New Zealand, Pháp, Anh, Mỹ, Canada, Hà Lan, CHLB Đức...Việc thực hiện tốt các chính sách nêu trên đã mang lại những kết quả cao trong việc đào tạo, bồi dưỡng đồng thời giúp cán bộ, công, viên chức của Tỉnh mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nâng cao trình độ tư duy và nhận thức.
Đề án Vị trí việc làm đã giúp Quảng Ninh xác định danh mục vị trí việc làm cần thiết trong các đơn vị, từ Tỉnh, huyện, xã, chọn đúng người, đúng việc và là cơ sở để thực hiện tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 17/4/2015 về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đề án đã giúp làm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả của công việc trong khu vực công.
Cơ chế, chính sách đối với phát triển nguồn nhân lực là dân tộc thiểu số của Tỉnh được ban hành là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của cả nước, và với tinh thần của nghị quyết của Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số. Số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số liên tục tăng và được quan tâm đào tạo trong giai đoạn 201-2020.
(2) Về số lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
NNL của Tỉnh Quảng Ninh đã có sự phát triển toàn diện (cả khu vực nhà nước và tư nhân, SXKD-DV và công chức, viên chức quản lý nhà nước), nhiều chỉ tiêu, kế hoạch về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo Nghị quyết 15/NQ-TU đã đạt và vượt kế hoạch, tạo ra những kết quả vượt trội quan trọng trong công tác cải cách hành chính và thương hiệu ấn tượng của Quảng Ninh trong đổi mới, phát triển kinh tếxã hội. Quy mô lao động của tỉnh Quảng Ninh không ngường tăng trong giai đoạn từ năm 2015-2019 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 1,51%/năm. Tổng số lao động trên địa bàn Quảng Ninh tăng từ 717,7 ngàn người năm 2015 lên 734,7 ngàn người năm 2019. Trên thực tế, lực lượng lao động của tỉnh trong 2 năm 2019 và 2020 có xu hướng giảm. Có thể lý giải, do nền kinh tế Quảng Ninh đã chuyển dịch theo hướng “tăng trưởng xanh” thay cho “tăng trưởng nâu” và tăng tỷ lệ các ngành có giá trị gia tăng lớn bằng cách tăng cơ cấu công nghiệp và dịch vụ đồng thời giảm dần đóng góp của các ngành khai khoáng và nông-lâm nghiệp-thủy sản. So với cả nước, Quảng Ninh là tỉnh có tỷ lệ dân số ở khu vực thành thị khá cao (64,44%) trong khi mức trung bình của cả nước 35, 05%.
Số lượng lao động có việc làm tăng lên, tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng thiếu việc làm giảm uống, thu nhập của người lao động được nâng cao, góp phần tích cực cải thiện tốt hơn tình hình an sinh xã hội, giảm tỷ lệ nghỉ việc. Trong giai đoạn 20152020, số lượng lao động có việc làm tăng thêm 41,3 nghìn người, tốc độ tăng bình quân khoảng 1,2%/năm, nâng tổng lực lượng lao động có việc làm từ 688,2 nghìn người vào năm 2015 lên 729,5 nghìn người năm 2020.
(3) Về cơ cấu nguồn nhân lực khoa học và công nghệ: Tỷ lệ nam nữ trong tổng số NL KH&CN tỉnh Quảng Ninh rất đồng đều (nam có 79.156 người, nữ có 79.164 người), đây là điểm sáng về cân bằng giới tính của Quảng Ninh. Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 4.61% năm 2015 xuống còn 2.7% năm 2020. Theo số liệu thống kê năm 2019, tỷ lệ NL KH&CN thất nghiệp trên tổng số lao động thất nghiệp của tỉnh hiện chiếm gần 25%, đây là tỷ lệ thấp, trong khi Tp. Hồ Chí Minh là 31,54% và Đà Nẵng là 33,94%.
(4) Về lĩnh vực chuyên môn, lĩnh vực khoa học và công nghệ Theo số liệu tổng hợp của nhóm nghiên cứu, phân bổ NL KH&CN theo nghề nghiệp, nhóm NL có chuyên môn kỹ thuật bậc cao có tỷ lệ trình độ đại học và cao đẳng cao nhất, đây là một tín hiệu đáng khích lệ về chất lượng và cơ cấu NNL KH&CN của Quảng Ninh. Trong giai đoạn tới, Tỉnh cần tiếp tục có chính sách để duy trì và gia tăng hơn nữa số lượng NL thuộc nhóm này.

Khung phân tích số lượng, chất lượng, cơ cấu NNL KH&CN.
(5) Về chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Chất lượng NNL không ngừng tăng lên so với mặt bằng chung cả nước, trở thành nhân tố đột phá đưa Quảng Ninh thành tỉnh có chỉ số cạnh tranh cấp Tỉnh và tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng đầu cả nước. Quảng Ninh có tốc độ tăng bình quần NL có trình độ thạc sỹ đạt mức gần 16%, trong khi mức tăng trung bình của cả nước chỉ đạt hơn 7% và của Tp. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng chỉ đạt trong khoảng 8-9%.
(6) Về phát triển nhiệm vụ khoa học và công nghệ Các nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết được chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, kịp thời. Nghị quyết thực hiện đạt 07/07 mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội địa phương theo hướng nhanh, bền vững.
(7) Về đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Mạng lưới cơ sở GD&ĐT của tỉnh đã được cải thiện cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân và là yếu tố hạt nhân để tỉnh có thể tiếp tục phát triển trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 90,5%; phòng học bán kiên cố, đạt tỷ lệ 8,7%. Tỷ lệ này có hơn mức bình quân của cả nước49. Hiện toàn Tỉnh có 534/637 trường đạt chuẩn quốc gia các cấp, chiếm tỷ lệ 83,83%. Kết quả này là nhờ có các chính sách kịp thời trong đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển nguồn nhân lực của Tỉnh. Tỷ lệ chi thường xuyên cho giáo dục trong những năm gần đây đều đạt khoảng 35% tổng chi ngân sách của Tỉnh, tỷ lệ này cao hơn so với mức đầu tư bình quân của cả nước.
(8) Về đầu tư phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Các nguồn vốn đầu tư cho phát triển các cơ sở hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề đã tăng lên qua các năm giai đoạn 2015-2019. Ngoài ra, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng được tiếp nhận (vốn ODA) nhằm tăng cường nguồn lực đầu tư để phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.
Bên cạnh kết quả đạt được nhưng nguồn nhân lực, đặc biệt NNL KH&CN, chưa phát triển tương xứng về số lượng, chất lượng và cơ cấu, từ đó hạn chế khả năng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Đó là: Cơ chế, chính sách còn bất cập: Chính sách thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao chưa đủ hấp dẫn, nhất là trong khu vực công, y tế và các ngành đặc thù; cơ chế quản lý, phối hợp và hỗ trợ doanh nghiệp còn hạn chế; Thiếu hụt nhân lực KH&CN: Quy mô nhân lực tại chỗ còn thấp, tỷ lệ nhân lực trình độ cao và chuyên gia KH&CN còn hạn chế; nguy cơ thiếu nhân lực trong các ngành mũi nhọn ngày càng tăng; Cơ cấu nhân lực chưa hợp lý: Chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn; vừa thiếu vừa thừa lao động ở các ngành; nhân lực chưa đáp ứng kịp quá trình chuyển dịch sang kinh tế xanh, công nghệ cao và dịch vụ; Chất lượng nhân lực chưa cao: Tỷ lệ nhân lực có trình độ sau đại học thấp, năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khả năng ứng dụng KH&CN còn hạn chế; Hoạt động KH&CN chưa hiệu quả: Đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp còn chậm; kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng, nhân rộng tốt; doanh nghiệp chưa thực sự coi KH&CN là động lực phát triển; Đào tạo chưa gắn với nhu cầu: Giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường lao động; liên kết Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp còn yếu; Đầu tư còn hạn chế: Cơ sở hạ tầng đào tạo ở vùng khó khăn chưa đồng bộ; nguồn lực ngoài ngân sách và sự tham gia của doanh nghiệp vào đào tạo, nghiên cứu KH&CN chưa được khai thác tốt; Nguyên nhân chính: Quy hoạch NNL chưa cụ thể, thiếu cơ sở dữ liệu; quản lý và đánh giá nhân lực chưa đồng bộ; chính sách chưa đủ cạnh tranh; thị trường lao động và hệ thống đào tạo chưa gắn kết; doanh nghiệp KH&CN còn yếu và phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ của Nhà nước.
Từ đánh giá kết quả đạt được và chỉ ra nguyên nhân tồn tại hạn chế về nguồn nhân lực khoa học công nghệ tỉnh Quảng Ninh, nhóm nghiên cứu đề xuất giải pháp sử dụng và phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ của tỉnh, bao gồm các giải pháp: Giải pháp về hoạch định chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; Giải pháp về đầu tư cho giáo dục - đào tạo và đào tạo lại; Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo và vai trò trách nhiệm của các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp đối với khoa học và công nghệ; Các giải pháp khác như: Đẩy mạnh công tác quảng bá, tuyên truyền chính sách thu hút, Tăng cường thu hút trí thức Việt kiều và các chuyên gia nước ngoài, Tăng cường bổ sung đội ngũ NL chất lượng cao NL KH&CN cho các cơ quan của Tỉnh, tập trung ngành du lịch, y tế, giáo dục và công nghệ cao, Đẩy mạnh liên kết, hợp tác chuyên gia trong và ngoài nước theo các chương trình, dự án, Đa dạng hóa các nguồn tài chính để phát triển NNL chất lượng cao và NNL KH&CN, Đẩy mạnh triển khai việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Giữ hồn nếp Ngự Sa Huỳnh, nếp Cút: Cuộc "hồi sinh" hai giống lúa đặc sản Quảng Ngãi (21/09/2026)
- Semi-Biofloc: Lời giải cho bài toán nuôi tôm thẻ chân trắng bền vững ở Bình Định (18/09/2026)
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp để thúc đẩy tài chính toàn diện nhằm thích ứng với... (16/09/2026)
- Chủ động nguồn giống cá mú đen chấm nâu: Hướng đi mới cho nghề nuôi biển Bình Định (14/09/2026)
- Gỡ nút thắt hiếm muộn ở miền Trung: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định làm chủ kỹ thuật... (11/09/2026)
- Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ hình tưới máu cơ tim trong chẩn đoán và định hướng... (09/09/2026)
