Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 771
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện của Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 (13/05/2026)

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nền tảng quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, việc tự nghiên cứu và làm chủ các công nghệ tiên tiến là mục tiêu lâu dài, song trong giai đoạn hiện nay, chuyển giao công nghệ vẫn được xem là con đường ngắn nhất để tiếp cận tri thức mới, nâng cao trình độ sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng và từng bước hình thành năng lực công nghệ nội sinh. Thực tiễn phát triển của nhiều nền kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore hay Trung Quốc cho thấy, thành công trong quá trình công nghiệp hóa đều gắn liền với việc xây dựng cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật hiệu quả nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp trong nước và các đối tác quốc tế.

Tại Việt Nam, chủ trương phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác định rõ trong nhiều nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng khẳng định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới. Tiếp đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Những định hướng này đặt ra yêu cầu phải xây dựng một môi trường pháp lý minh bạch, đồng bộ và đủ sức khuyến khích các hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra hiệu quả.

Sau hơn bảy năm triển khai, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thu hút công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, đồng thời kiểm soát việc nhập khẩu các công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, quá trình thực thi cũng bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, năng lực của các chủ thể tham gia cũng như khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo ngày càng cấp thiết, việc nghiên cứu toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.

Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện của Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017" do Viện Chiến lược triển khai nhằm đánh giá toàn diện quá trình thực thi Luật, phân tích các yếu tố tác động đến hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.

Nội dung thực hiện quy định pháp luật về chuyển giao công nghệ.

Một trong những điểm nổi bật của nghiên cứu là đã xây dựng cơ sở lý luận khá toàn diện về chuyển giao công nghệ và việc thực hiện pháp luật về chuyển giao công nghệ. Theo đó, chuyển giao công nghệ không đơn thuần là hoạt động mua bán máy móc, thiết bị hay dây chuyền sản xuất mà là quá trình chuyển giao toàn diện các tri thức, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, phương pháp quản trị và năng lực vận hành từ bên chuyển giao sang bên tiếp nhận. Thành công của hoạt động chuyển giao công nghệ không chỉ được đánh giá bằng số lượng hợp đồng được ký kết mà quan trọng hơn là khả năng tiếp nhận, làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ của bên nhận chuyển giao.

Từ góc độ quản lý nhà nước, việc thực hiện Luật Chuyển giao công nghệ được nhìn nhận là tổng thể các hoạt động từ xây dựng chính sách, ban hành văn bản hướng dẫn, tổ chức tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp, quản lý thị trường công nghệ, kiểm tra, giám sát cho đến giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện. Vì vậy, hiệu quả thực thi Luật chịu tác động đồng thời của nhiều nhóm yếu tố khác nhau, bao gồm chất lượng của hệ thống pháp luật, năng lực của cơ quan quản lý, nguồn lực tài chính, trình độ khoa học công nghệ, nhận thức của doanh nghiệp và mức độ phát triển của thị trường công nghệ.

Để làm rõ các yếu tố này, nhóm nghiên cứu đã khảo cứu nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, đồng thời phân tích kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống chuyển giao công nghệ phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Đức, Hà Lan, Ba Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù mô hình tổ chức của mỗi quốc gia có những điểm khác biệt, song đều có một số đặc điểm chung. Trước hết là sự tồn tại của hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định và có tính dự báo cao nhằm tạo niềm tin cho doanh nghiệp khi đầu tư đổi mới công nghệ. Thứ hai là sự phát triển của các tổ chức trung gian như sàn giao dịch công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và các tổ chức môi giới công nghệ. Bên cạnh đó, các quốc gia đều chú trọng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu, đồng thời hình thành các chính sách ưu đãi tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ.

Trên cơ sở tổng hợp lý luận và kinh nghiệm quốc tế, nhóm nghiên cứu đã phân tích khá toàn diện thực trạng thực hiện Luật Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, kể từ khi Luật năm 2017 có hiệu lực, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chuyển giao công nghệ từng bước được hoàn thiện. Các quy định về danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao, trình tự đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ, thẩm định công nghệ, định giá công nghệ cũng như các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ đã góp phần tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động chuyển giao công nghệ.

Cùng với đó, nhiều chương trình quốc gia về đổi mới công nghệ, phát triển thị trường khoa học và công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo cũng được triển khai ở cả Trung ương và địa phương. Hệ thống các trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, sàn giao dịch công nghệ từng bước được hình thành, tạo điều kiện kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ. Nhiều doanh nghiệp trong nước đã mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị, tiếp nhận các dây chuyền sản xuất hiện đại, đặc biệt trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin và năng lượng tái tạo.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng. Một trong những nguyên nhân quan trọng là hệ thống pháp luật mặc dù đã được sửa đổi nhưng vẫn còn tồn tại sự chồng chéo giữa Luật Chuyển giao công nghệ với Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Đầu tư, Luật Sở hữu trí tuệ và một số văn bản pháp luật khác. Điều này dẫn đến những khó khăn nhất định trong quá trình áp dụng pháp luật, đặc biệt đối với các doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục liên quan đến chuyển giao công nghệ, định giá tài sản trí tuệ hay thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong quản lý hoạt động chuyển giao công nghệ vẫn chưa thực sự đồng bộ. Nguồn dữ liệu về công nghệ, chuyên gia, nhu cầu thị trường còn phân tán, chưa được tích hợp thành hệ thống thống nhất. Các sàn giao dịch công nghệ mặc dù đã được thành lập ở nhiều địa phương nhưng hiệu quả hoạt động còn hạn chế, chưa trở thành kênh kết nối quan trọng giữa doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu.

Một vấn đề khác được nghiên cứu nhấn mạnh là năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có quy mô vốn nhỏ, trình độ quản trị còn hạn chế, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và chưa dành nguồn lực thích đáng cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Nhiều doanh nghiệp vẫn coi đầu tư đổi mới công nghệ là chi phí thay vì khoản đầu tư chiến lược cho phát triển dài hạn. Điều này làm giảm nhu cầu tiếp nhận công nghệ mới cũng như khả năng làm chủ công nghệ sau khi được chuyển giao.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.