Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 4259
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khuyết tật trí tuệ học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (26/08/2026)

Nhằm tập trung giải quyết bài toán nâng cao khả năng tự lập, thích ứng xã hội và chất lượng hòa nhập cộng đồng cho trẻ khuyết tật trí tuệ, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã tiến hành triển khai đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khuyết tật trí tuệ học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” do TS. Mai Thị Phương làm chủ nhiệm. Với mục tiêu Đánh giá thực trạng giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho học sinh khuyết tật trí tuệ (KTTT) tại các trường tiểu học hòa nhập trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ và điều kiện thực tế địa phương. Nhóm nghiên cứu đã triển khai khảo sát gồm các nội dung sau: (1) Thực trạng KNS của học sinh KTTT học hòa nhập tiểu học; (2) Thực trạng hỗ trợ của phụ huỵnh, gia đình trong việc giáo dục trẻ khuyết tật; (3) Nhận thức của giáo viên, phụ huynh về sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; (4) Thực trạng giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; (5) yếu tố ảnh hưởng kết quả giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; (6) Đề xuất của phụ huynh để nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập.

(1) Thực trạng KNS của học sinh KTTT học hòa nhập tiểu học                                                         

Theo kết quả khảo sát cho thấy phần lớn học sinh khuyết tật trí tuệ học hòa nhập tại tỉnh Bắc Ninh (94,9%) đang học hai buổi/ngày. Đây là điều kiện thuận lợi về mặt thời lượng để các cơ sở giáo dục triển khai các hoạt động hỗ trợ kỹ năng sống bên cạnh nội dung học thuật.

Biểu đồ Giáo dục kỹ năng sống theo chương trình phổ thông và thiết kế riêng của

học sinh KTTT tại tỉnh Bắc Ninh.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đánh giá các Nhận định của giáo viên về khả năng thực hiện được các kỹ năng của học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh bao gồm: Đánh giá của giáo viên về khả năng thực hiện được nhóm kĩ năng xã hội của học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Đánh giá của giáo viên về khả năng thực hiện được nhóm kĩ năng tự phục vụ của học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Đánh giá của giáo viên về khả năng thực hiện được nhóm kĩ năng giao tiếp của học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời, nhóm nghiên cứu Đánh giá của giáo viên về tần suất thực hiện được các kỹ năng của học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh: Đánh giá của giáo viên về tần suất thực hiện được nhóm kỹ năng xã hội của học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Đánh giá của giáo viên về tần suất thực hiện được nhóm kỹ năng tự phục vụ của học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Đánh giá của giáo viên về tần suất thực hiện được nhóm kỹ năng giao tiếp của học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;

(2) Thực trạng hỗ trợ của phụ huỵnh, gia đình trong việc giáo dục trẻ khuyết tật

Phụ huynh có nhu cầu hỗ trợ cao nhất ở lĩnh vực giáo dục kỹ năng sống và hỗ trợ dạy các môn học theo chương trình. Các nội dung như quản lý hành vi và phục hồi chức năng được phụ huynh quan tâm ở mức trung bình. Nhu cầu hướng nghiệp – dạy nghề có tỷ lệ thấp hơn, cho thấy đây chưa phải là ưu tiên của đa số phụ huynh. Ý kiến khác được ghi nhận rất ít, chủ yếu liên quan đến học tập và định hướng nghề nghiệp.

Đối với vấn đề hỗ trợ cho gia đình khi con học hào nhập tại trường tiểu học: Dữ liệu khảo sát cho thấy phần lớn hỗ trợ được cung cấp về kinh tế, nhưng còn lại về các lĩnh vực khác như y tế, đồ dùng học tập, và phương pháp dạy học đều có tỷ lệ hỗ trợ không cao. Ngoài ra, một số học sinh nhận được hỗ trợ đặc biệt từ các đoàn tình nguyện và chế độ học sinh khuyết tật. Cần tiếp tục cải thiện các hình thức hỗ trợ trong các lĩnh vực này để đảm bảo sự công bằng và phát triển toàn diện cho học sinh.

Về nội dung chăm sóc, giáo dục và phối hợp giữa gia đình và nhà trường: Bố mẹ đóng vai trò chủ đạo trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ (KTTT), chiếm tỷ lệ áp đảo là 82,4%, cho thấy gia đình hạt nhân đang gánh vác trách nhiệm chính trong việc nuôi dạy trẻ KTTT. Ông bà là lực lượng hỗ trợ quan trọng thứ hai với 34,6%, trong khi các thành viên khác trong gia đình mở rộng và người giúp việc đóng góp rất hạn chế (đều dưới 10,5%), phản ánh thực tế rằng việc chăm sóc trẻ KTTT chủyếu vẫn nằm trong phạm vi gia đình gần. Trong đó, môn học được yêu thích nhất của trẻ khuyết tật trí tuệ (KTTT) là Mỹ thuật (19%) và Giáo dục thể chất (13,1%), theo sau là Toán (11,8%) và Tiếng Việt (9,8%). Đáng chú ý là tỷ lệ "Không có đáp án" chiếm cao nhất (26,1%), cho thấy có thể tồn tại khó khăn trong việc xác định sở thích học tập của trẻ KTTT hoặc phụ huynh gặp thách thức trong việc nhận diện môn học yêu thích của con em họ.

Mức độ phối hợp tích cực giữa phụ huynh và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho trẻ khuyết tật trí tuệ, với phần lớn cho biết họ phối hợp "Thường xuyên" (58,2%) hoặc "Rất thường xuyên" (24,2%). Số liệu này phản ánh mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ KTTT, cho thấy sự nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của việc phối hợp này.

(3) Nhận thức của giáo viên, phụ huynh về sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Giáo viên đánh giá cao hơn về khả năng "Chậm nhớ, mau quên" (57% hoàn toàn đồng ý) và "Khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng" (50,2% hoàn toàn đồng ý), trong khi phụ huynh có xu hướng đánh giá mức độ "Đồng ý" cao hơn ở tất cả các hạn chế, đặc biệt là về "Khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng" (71,2%). Đáng chú ý, cả giáo viên và phụ huynh đều nhận thấy học sinh KTTT có "Khó khăn trong việc hiểu và thực hiện các nội quy, quy định của trường học", nhưng phụ huynh đánh giá cao hơn (68,6% đồng ý so với 59,9% từ giáo viên). Sự khác biệt này có thể phản ánh góc nhìn và kỳ vọng khác nhau giữa nhà trường và gia đình đối với khả năng học tập và hòa nhập của trẻ KTTT.

Phụ huynh học sinh khuyết tật trí tuệ có nhiều mối lo lắng khác nhau liên quan đến quá trình phát triển của con em mình, trong đó nổi bật nhất là các vấn đề liên quan đến học tập (73,9%) và kỹ năng sống (72,5%).

(4) Thực trạng giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Xác định mục tiêu và nội dung giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học: Dữ liệu khảo sát cho thấy sự đồng thuận tương đối giữa giáo viên và phụ huynh về mức độ cần
thiết của các mục tiêu và nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh KTTT.

Thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục KNS cho học sinh KTTT: Nhìn chung, hầu hết các phương pháp đều được giáo viên và phụ huynh sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên, phương pháp “chuỗi ngược” và phương pháp kể chuyện xã hội lại ít được giáo viên áp dụng và cũng không cho thấy hiệu quả rõ rệt trong thực tiễn.

Hình thức tổ chức dạy KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập ở cấp tiểu học: Tại trường học, hình thức "Dạy trên các tiết học cùng với cả lớp" được ưu tiên caonhất (89,4% theo ý kiến giáo viên và 80,6% theo cán bộ quản lý), trong khi "Dạy cá nhân HS vào giờ ra chơi" đứng thứ hai (38,2% và 52,8%). Về phía gia đình, phụ huynh chủ yếu thực hiện việc dạy KNS "Theo thời khóa biểu dạy KNS hàng ngày" (79,1%), cao hơn nhiều so với "Dạy trong các tiết học cá nhân tại gia đình" (32,7%).

Cả giáo viên (GV), cán bộ quản lý (CBQL), và phụ huynh (PH) đều chủ yếu dựa vào "Kinh nghiệm cá nhân" với tỷ lệ cao nhất (GV: 80,2%, CBQL: 97,2%, PH: 74,5%), điều này chứng tỏ vai trò quan trọng của kinh nghiệm thực tiễn trong việc giáo dục trẻ KTTT. Phương pháp phổ biến thứ hai mà cả ba nhóm áp dụng là học hỏi từ người khác, tiếp theo là tự nghiên cứu và tìm hiểu. Đặc biệt, các phương pháp đào tạo chính thức lại ít được giáo viên áp dụng (19,3%) và phụ huynh sử dụng (11,1%), trong khi cán bộ quản lý lại áp dụng nhiều hơn (66,7%).

Trong khi giáo viên (GV) và cán bộ quản lý (CBQL) chủ yếu "Tự tìm hiểu qua kênh Internet" (71,5% và 72,2%) và "Tự đọc sách, tài liệu" (60,4% và 66,7%), phụ huynh lại có xu hướng "Học hỏi từ giáo viên dạy con mình" (63,4%), là phương pháp phổ biến nhất. Điều này phản ánh sự phụ thuộc của phụ huynh vào sự hướng dẫn từ nhà trường, trong khi đội ngũ giáo dục lại chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin. Đáng chú ý, cả ba nhóm đều ít sử dụng "Văn bản của Bộ/Sở/Phòng GDĐT" (GV: 38,6%, CBQL: 75%, PH: chỉ 12,4%), điều này chỉ ra khoảng cách giữa chính sách giáo dục chính thống và thực tiễn giảng dạy KNS cho trẻ KTTT. Bên cạnh đó, phụ huynh cũng chủ động tìm hiểu qua Internet (47,1%) và học hỏi từ người thân, bạn bè (41,2%), cho thấy nỗ lực tự học và tìm kiếm nguồn hỗ trợ đa dạng.

Thực trạng đánh giá kết quả trong quá trình giáo dục KNS cho học sinh KTTT: Phần lớn giáo viên (GV) và cán bộ quản lý (CBQL) đều ưu tiên đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khuyết tật dựa trên kế hoạch giáo dục cá nhân (86% GV và 91,7% CBQL). Tỷ lệ đánh giá theo chuẩn chung của lớp thấp hơn nhiều (13% GV và 16,7% CBQL), trong khi chỉ một số ít không thực hiện đánh giá (6,3% GV và 8,3% CBQL). Điều này phản ánh xu hướng tích cực trong việc cá nhân hóa quá trình đánh giá, phù hợp với nhu cầu đặc biệt của từng học sinh khuyết tật.

Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhâp cấp tiểu học: Kết quả khảo sát cho thấy sự đồng thuận cao giữa giáo viên (GV) và cán bộ quản lý (CBQL) về nhiều khía cạnh, được đánh giá cao nhất là sự phối hợp hỗ trợ giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục trẻ KTTT. Cụ thể, có sự hợp tác tích cực từ phía phụ huynh (86,5–
86,1%) và sự đồng tình, tạo điều kiện từ nhà trường (86–97,2%). Bầu không khí lớp học thân thiện cũng được cả hai nhóm đánh giá tích cực (78,7–77,8%). Tuy nhiên, các yếu tố như đồ dùng, thiết bị dạy học (30,9–36,1%) và trình độ chuyên môn của giáo viên (18,8–41,7%) vẫn còn hạn chế, là những điểm cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả giáo dụckỹ năng sống cho học sinh KTTT.

Phụ huynh cho rằng các thuận lợi chính là từ phía nhà trường, sự ủng hộ, phối hợp với giáo viên (81,7%), và sự hướng dẫn từ nhà trường cũng dược đánh giá cao (66%). Ngoài ra, còn được các thành viên trong gia đình hỗ trợ (66,7%). Tuy nhiên, nguồn thông tin tài liệu phù hợp còn hạn chế (11,1%) và chương trình giáo dục kỹ năng sống dành riêng cho học sinh KTTT chỉ đạt 19%, cho thấy đây là những thách thức lớn trong việc triển khai giáo dục KNS cho học sinh KTTT.

Các khó khăn chính trong giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho học sinh khuyết tật trí tuệ (HSKTTT) được thể hiện rõ qua đánh giá của giáo viên, cán bộ quản lý (GV/CBQL) và phụ huynh. Khó khăn nổi bật nhất là khả năng tập trung chú ý của HSKTTT kém, được cả GV/CBQL (87,5–86,1%) và phụ huynh (86,9%) đánh giá rất cao. Thiếu chương trình giáo dục KNS riêng cho HSKTTT cũng là vấn đề lớn, được GV/CBQL (85,3–94,4%) đánh giá cao hơn phụ huynh (67,3%). Về phương pháp giáo dục phù hợp, CBQL (47,2%) đánh giá cao hơn GV (42,5%), trong khi phụ huynh cũng nhận thấy đây là khó khăn đáng kể (53,6%). Một số khác biệt đáng chú ý giữa các nhóm là việc GV/CBQL (36,2–36,1%) đánh giá thấp hơn phụ huynh (57,5%) về mức độ không biết hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp. Về thiếu thời gian dạy KNS, cả hai nhóm có đánh giá tương đồng (GV/CBQL: 42,5–38,9%, phụ huynh: 40,5%). Trong khi đó, hiện tượng học sinh thường chống đối được GV/CBQL (39,6–50%) đánh giá cao hơn phụ huynh (35,9%).
Các vấn đề ít được quan tâm hơn bao gồm: gia đình học sinh không quan tâm (GV/CBQL: 12,1–16,7%, phụ huynh: 14,4%) và sự thiếu thân thiện từ phụ huynh hay học sinh trong lớp đối với HSKTTT, đều được cả hai nhóm đánh giá ở mức thấp.

(5) yếu tố ảnh hưởng kết quả giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Kết quả khảo sát cho thấy sự thống nhất tương đối cao giữa các nhóm về những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho học sinh khuyết tật trí tuệ (HSKTTT). Tất cả các nhóm đều đồng thuận rằng “Đặc điểm về khả năng và nhu cầu của học sinh” là yếu tố quan trọng nhất, với tỷ lệ đánh giá rất cao từ GV (88,9%), CBQL (86,1%) và PH (78,4%). Yếu tố “Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường” cũng được đánh giá ở mức trung bình–cao (GV: 55,1%, CBQL: 66,7%, PH: 52,9%).

Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng chú ý về mức độ đánh giá một số yếu tố khác. Cán bộ quản lý có xu hướng đánh giá cao hơn giáo viên và phụ huynh ở hầu hết các yếu tố, đặc biệt là “Hoàn cảnh gia đình” (CBQL: 88,9%, GV: 58,9%, PH: 51,6%) và “Sự tác động của giáo viên” (CBQL: 66,7%, GV: 49,3%, PH: 44,4%). Tương tự, yếu tố “Cơ sở, trang thiết bị của nhà trường” được CBQL đánh giá cao (63,9%), trong khi GV và PH đánh giá thấp hơn nhiều (lần lượt là 36,7% và 37,9%).

Về thứ tự ưu tiên, sau yếu tố đặc điểm học sinh, CBQL đề cao đồng thời “Hoàn cảnh gia đình” và “Sự tác động của giáo viên”, trong khi phụ huynh ưu tiên “Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường” và “Hoàn cảnh gia đình” hơn yếu tố giáo viên. Đối với giáo viên, “Hoàn cảnh gia đình” được đánh giá cao hơn sự phối hợp, trong khi phụ huynh có quan điểm ngược lại.

(6) Đề xuất của phụ huynh để nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh KTTT học hòa nhập.

Mong muốn nhà trường có chương trình giáo dục kỹ năng sống riêng, phù hợp với đặc điểm và mức độ nhận thức của học sinh khuyết tật trí tuệ. Chương trình cần chú trọng các kỹ năng thiết yếu như tự phục vụ, giao tiếp, quản lý cảm xúc, hòa nhập xã hội, bảo đảm an toàn và từng bước định hướng nghề nghiệp.

Đề nghị tăng cường giáo viên chuyên biệt, giáo viên có chuyên môn về giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ và giáo viên trực tiếp dạy kỹ năng sống. Một số ý kiến đề xuất bố trí lớp chuyên biệt hoặc lớp hỗ trợ riêng trong trường hòa nhập để học sinh được hướng dẫn sát sao hơn.

Mong muốn được tham gia nhiều khóa tập huấn về giáo dục kỹ năng sống, phương pháp dạy trẻ khuyết tật trí tuệ, quản lý hành vi và hỗ trợ trẻ tại nhà. Tài liệu hướng dẫn cần cụ thể, trực quan, dễ thực hiện và gắn với những tình huống trong sinh hoạt hằng ngày.

Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đồ dùng trực quan, không gian thực hành và các phương tiện hỗ trợ học sinh. Nhà trường cần tạo môi trường an toàn, thân thiện, giúp học sinh được tham gia nhiều hoạt động vui chơi, vận động, giao tiếp và trải nghiệm.

Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan chức năng. Việc trao đổi thông tin cần được thực hiện thường xuyên, có kế hoạch và dựa trên sự tiến bộ thực tế của học sinh.

Có chính sách hỗ trợ kinh tế, y tế, học phí, đồ dùng học tập và các chế độ phù hợp cho học sinh khuyết tật trí tuệ cũng như giáo viên trực tiếp giảng dạy các em.

Kết quả khảo sát và phân tích dữ liệu về kỹ năng sống (KNS) của học sinh khuyết tật trí tuệ (KTTT) học hòa nhập tại các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã cung cấp những thông tin thiết thực, phản ánh khá toàn diện thực trạng giáo dục KNS cho nhóm học sinh này. Đề tài đã mang đến cái nhìn chi tiết về đặc điểm của phụ huynh và học sinh khuyết tật trí tuệ, đồng thời phân tích những yếu tố tác động đến hiệu quả của quá trình giáo dục KNS trong bối cảnh hòa nhập. Các số liệu được thu thập đã phản ánh rõ nét hiện trạng giáo dục hòa nhập cho học sinh KTTT. Kết quả khảo sát này không chỉ giúp đánh giá hiệu quả của các chương trình giáo dục KNS hiện tại, mà còn là nền tảng để phát triển các giải pháp cải tiến phương pháp giảng dạy, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt hơn cho học sinh KTTT học hòa nhập trong tương lai.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.