Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 765
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu, đề xuất giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác tổ chức cán bộ tại Bộ Khoa học và Công nghệ (18/05/2026)

Chuyển đổi số đang được xác định là xu thế tất yếu, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam. Đây không chỉ là đòi hỏi của thực tiễn mà còn là định hướng nhất quán của Đảng và Nhà nước, thể hiện rõ nét qua Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, cùng hàng loạt văn bản pháp lý đồng bộ khác. Trong bối cảnh đó, ứng dụng công nghệ số vào công tác tổ chức cán bộ không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Công tác tổ chức cán bộ giữ vị trí then chốt trong toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước, bởi đây là khâu trực tiếp xây dựng, quản lý và phát triển đội ngũ nhân lực phục vụ cho sự vận hành của bộ máy. Khi khối lượng thông tin nhân sự ngày càng lớn, yêu cầu về tính chính xác, cập nhật và liên thông dữ liệu ngày càng cao, phương thức quản lý thủ công bằng hồ sơ giấy hay bảng tính rời rạc trên máy tính cá nhân đã bộc lộ rõ những hạn chế căn bản. Việc thiếu một hệ thống dữ liệu nhân sự tập trung, chuẩn hóa không chỉ gây khó khăn cho công tác thống kê, báo cáo mà còn làm giảm chất lượng phục vụ cho các quyết định quản lý. Chính vì vậy, triển khai ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực này là con đường tất yếu để hiện đại hóa nền hành chính công vụ.

Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.

Thực tiễn tại Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KHCN) - cơ quan được hình thành trên cơ sở hợp nhất Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Thông tin và Truyền thông theo Nghị quyết của Quốc hội khóa XV đặt ra những yêu cầu đặc biệt cấp bách. Sau hợp nhất, Bộ quản lý một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động lên đến hơn 6.300 người với cơ cấu tổ chức phức tạp gồm nhiều vụ, cục, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp trực thuộc. Đây là bối cảnh thực tiễn thúc đẩy việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác tổ chức cán bộ trở thành yêu cầu mang tính chiến lược, không thể trì hoãn.

Chuyển đổi số quốc gia được triển khai trên nền tảng thể chế ngày càng hoàn thiện. Mô hình chuyển đổi số của Việt Nam được xây dựng trên ba trụ cột là chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, với thể chế số và môi trường số đóng vai trò nền tảng. Hệ thống pháp lý phục vụ chuyển đổi số đã được mở rộng đáng kể, từ Quyết định số 942/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, đến Luật Dữ liệu (số 60/2024/QH15), Luật Giao dịch điện tử sửa đổi, và mới đây là Luật Công nghiệp Công nghệ số (số 71/2025/QH15). Hạ tầng số quốc gia cũng đã đạt những bước tiến vượt bậc: tốc độ mạng di động xếp trong top 20 thế giới, hạ tầng 5G phủ sóng ngày càng rộng, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia từng bước được xây dựng và khai thác.

Trong lĩnh vực quản lý cán bộ, Quyết định số 893/QĐ-TTg về Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, yêu cầu các bộ, ngành kết nối, đồng bộ dữ liệu nhân sự với hệ thống quốc gia do Bộ Nội vụ quản lý. Đến nay, 100% bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành kết nối, đồng bộ dữ liệu, với tổng số hơn 2,1 triệu hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức được đồng bộ, chiếm 95% tổng số, tạo tiền đề quan trọng để các cơ quan quản lý cán bộ chuyển sang phương thức quản lý dựa trên dữ liệu số.

Sau hợp nhất, Bộ KHCN triển khai tinh gọn bộ máy một cách mạnh mẽ: từ 71 đơn vị trực thuộc của hai bộ trước hợp nhất, nay còn 39 đơn vị, đạt tỷ lệ tinh gọn đầu mối các cơ quan hành chính lên đến 48%. Về nhân sự, đến tháng 9/2025, Bộ quản lý 1.127 công chức, 3.057 viên chức và 2.045 người lao động, với tổng biên chế công chức hưởng lương ngân sách nhà nước là 1.103 chỉ tiêu. Công tác tuyển dụng được thực hiện công khai, minh bạch; đánh giá, xếp loại cán bộ hàng năm gắn với vị trí việc làm; công tác đào tạo, bồi dưỡng được duy trì thường xuyên với hàng nghìn lượt cán bộ được cử đi đào tạo trong và ngoài nước mỗi năm.

Về ứng dụng công nghệ số, Bộ đã chọn phát triển và triển khai thống nhất Phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Bộ KHCN kế thừa từ hệ thống của Bộ Thông tin và Truyền thông. Phần mềm được xây dựng trên nền web, sử dụng ngôn ngữ lập trình .Net và hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server, hỗ trợ nhiều tính năng nghiệp vụ thiết yếu như: quản lý bổ nhiệm, cảnh báo bổ nhiệm lại, cảnh báo nghỉ hưu, cảnh báo nâng lương, quản lý quy hoạch cán bộ ở các cấp, đánh giá xếp loại, ký số và đồng bộ với hệ thống quốc gia. Đến tháng 12/2025, toàn bộ 6.307 hồ sơ nhân sự đang làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ đã được cập nhật trên hệ thống.

Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình triển khai vẫn còn một số hạn chế: dữ liệu nhân sự từ hai hệ thống cũ cần thời gian chuẩn hóa; mức độ sẵn sàng và kỹ năng số của một bộ phận cán bộ chưa đồng đều; phần mềm chưa bao phủ toàn bộ vòng đời cán bộ từ tuyển dụng đến nghỉ chế độ; hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin cần tiếp tục được củng cố.

Trên cơ sở phân tích thực trạng và yêu cầu phát triển, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ theo bảy nhóm chính:

Thứ nhất, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động chuyển đổi số. Cấp ủy, lãnh đạo cơ quan cần đưa các nội dung chuyển đổi số vào chương trình công tác hàng năm với mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể; gắn kết quả thực hiện chuyển đổi số với công tác đánh giá, xếp loại cá nhân và tập thể; tăng cường kiểm tra, giám sát thực chất, không chỉ về hình thức và tiến độ mà còn về hiệu quả và khả năng đáp ứng yêu cầu quản lý.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống phần mềm quản lý cán bộ theo hướng đồng bộ, thông minh. Cần bổ sung các chức năng quản lý toàn bộ vòng đời cán bộ, bao gồm: quản lý tổ chức bộ máy và biên chế; tuyển dụng, tập sự và tiếp nhận; đánh giá, xếp loại theo vị trí việc làm; thi đua, khen thưởng; đào tạo, bồi dưỡng; quản lý nâng lương và phụ cấp; quy hoạch và bổ nhiệm; nghỉ chế độ. Mỗi phân hệ cần được liên thông chặt chẽ để đảm bảo dữ liệu thống nhất, xuyên suốt.

Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tập trung, bảo đảm nguyên tắc "đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung". Cơ sở dữ liệu này phải là nguồn dữ liệu chính thức, duy nhất phục vụ toàn bộ hoạt động quản lý cán bộ trong Bộ, đồng thời tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật để kết nối liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia. Cần xây dựng quy trình cập nhật theo nguyên tắc phát sinh đến đâu cập nhật đến đó, gắn trách nhiệm cập nhật với từng đơn vị và cá nhân được phân quyền.

Thứ tư, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực. Trên nền tảng dữ liệu nhân sự tập trung, các mô hình AI có thể hỗ trợ đánh giá năng lực cán bộ một cách khách quan, đa chiều; dự báo nhu cầu nhân sự trung và dài hạn; phát hiện bất thường, sai lệch trong dữ liệu; phân tích xu hướng phát triển của đội ngũ để hỗ trợ hoạch định chính sách. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI phải tuân thủ nguyên tắc hỗ trợ ra quyết định, không thay thế thẩm quyền của con người và cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Thứ năm, phát triển ứng dụng di động (mobile app) phục vụ cán bộ, công chức, viên chức. Ứng dụng di động sẽ trở thành kênh tương tác trực tiếp giữa cơ quan quản lý và người lao động, hỗ trợ các tiện ích như: xem và cập nhật thông tin cá nhân; theo dõi quá trình công tác, nâng lương, bổ nhiệm; đăng ký và theo dõi kết quả thi đua - khen thưởng; nhận thông báo và cảnh báo về các sự kiện liên quan đến quyền lợi cá nhân.

Thứ sáu, phát triển hạ tầng và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin. Hạ tầng kỹ thuật cần được nâng cấp đồng bộ, hiện đại, đạt mức an toàn thông tin cấp độ 3 theo quy định; triển khai các giải pháp bảo mật nhiều lớp, xác thực đa yếu tố, phân quyền truy cập chặt chẽ, sao lưu và phục hồi dữ liệu định kỳ. Đồng thời, ưu tiên tận dụng hạ tầng CNTT hiện có của Bộ để tiết kiệm nguồn lực.

Thứ bảy, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức. Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả triển khai các hệ thống số. Cần tổ chức tập huấn theo lộ trình phù hợp với từng tính năng phần mềm; đào tạo kiến thức nền về chuyển đổi số, quản lý dữ liệu và an toàn thông tin; xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ chuyên trách chuyển đổi số trong lĩnh vực tổ chức cán bộ tại các cơ quan, đơn vị.

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai mạnh mẽ và Bộ Khoa học và Công nghệ vừa hoàn thành quá trình hợp nhất với quy mô nhân sự lớn và tổ chức phức tạp, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác tổ chức cán bộ là yêu cầu tất yếu, cấp bách và có ý nghĩa chiến lược. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ mang tên "Nghiên cứu, đề xuất giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác tổ chức cán bộ tại Bộ Khoa học và Công nghệ", do Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì thực hiện và ThS. Hoàng Anh làm Chủ nhiệm nhiệm vụ, đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để thúc đẩy quá trình chuyển đổi này.

Các giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu hướng đến mục tiêu chuyển đổi căn bản phương thức quản lý cán bộ từ thủ công, phân tán sang tập trung, thống nhất, minh bạch và dựa trên dữ liệu số. Khi được triển khai đồng bộ và có sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo các cấp, hệ thống giải pháp này sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tạo nền tảng vững chắc cho việc kết nối, liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại và đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.