Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 776
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn thành phố Hải Phòng (20/04/2026)

Phát triển KTBĐ hiện đang là loại hình kinh có nhiều bàn luận vì tính hai mặt của mô hình này đối với phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của một quốc gia. KTBĐ đang dần được coi là một động lực tăng trưởng kinh tế mới thông qua thúc đẩy phát triển nhiều ngành nghề kinh doanh mới, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội, tăng thu nhập cho một bộ phận dân cư, đóng góp vào ngân sách nhà nước và địa phương, … KTBĐ giúp kéo dài hoạt động kinh tế, nâng cao hiệu suất sử dụng cơ sở vật chất, phát huy giá trị văn hóa và đặc biệt kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch.

Ở Việt Nam, một số hoạt động KTBĐ đã hình thành từ nhiều năm nay và phát triển dưới các loại hình như: các khu phố đi bộ, khu mua sắm, khu ẩm thực, cửa hàng tiện lợi, chợ đêm, quán bar và một số hoạt động nghệ thuật, giải trí đường phố. Trong khi đó, một số diễn biến ở Việt Nam có thể giúp thúc đẩy phát triển KTBĐ, đó là: hoạt động du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là du lịch quốc tế; quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh chóng; lực lượng dân số trẻ dồi dào và sự gia tăng số lượng tầng lớp trung lưu. Tuy nhiên, hoạt động KTBĐ mới chỉ khai thác ở quy mô nhỏ, hoạt động mang tính tự phát riêng lẻ, manh mún tại một số đô thị và trung tâm du lịch lớn như: thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hội An, Huế,… nên chưa được ghi nhận như một mô hình kinh tế có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế đất nước thời gian qua.

Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã có phần gợi mở phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn Thành phố Hải Phòng, đó là: Xác định Cát Bà, Đồ Sơn cùng với Hạ Long trở thành trung tâm du lịch quốc tế; đồng thời đặt ra nhiệm vụ “ Thành lập Khu thương mại tự do thế hệ mới Hải Phòng; Thu hút đầu tư các trung tâm thương mại đa năng, phức hợp, tổng hợp mang tầm khu vực Đông Nam Á; Tập trung nghiên cứu, đánh giá, phân tích các cơ chế, chính sách, kinh nghiệm, cách làm hay ở trong nước và quốc tế,… để có thể vận dụng phù hợp với điều kiện của thành phố Hải Phòng”. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Chương trình hành động số 05-CTr/TU, Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, cũng đã đưa ra nhiệm vụ giải pháp xây dựng và phát triển Hải Phòng Xây dựng hồ sơ đề nghị công nhận Cát Bà, Côn Sơn - Kiếp Bạc là khu du lịch quốc gia. Xây dựng Cát Bà thành "đảo xanh"; Đồ Sơn thành trung tâm du lịch đa chức năng và trở thành khu vực hậu cần về dịch vụ, du lịch... cho Khu kinh tế phía Nam, cảng Nam Đồ Sơn và Khu thương mại tự do; Côn Sơn - Kiếp Bạc trở thành trung tâm du lịch văn hóa, tâm linh quốc tế. Các quyết định nêu trên là những căn cứ mang tính mở đường cho phát triển kinh tế ban đêm của Hải Phòng. Do vậy, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới tiến hành triển khai đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn Thành phố Hải Phòng: do TS Hà Huy Ngọc làm chủ nhiệm.

Ban chủ nhiệm đưa ra một số bài học kinh nghiệm phù hợp đối với trường hợp cụ thể đối với Thành phố Hải Phòng và Việt Nam:

Thứ nhất, phân quyền mạnh mẽ cho bộ máy quản trị, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một chính sách hay một lộ trình chung cho phát triển KTBĐ ở các quốc gia và ở các địa phương khác nhau trong mỗi quốc gia. Hơn nữa, các quốc gia cũng không xây dựng khung pháp lý/chính sách quốc gia riêng điều chỉnh hoạt động KTBĐ do mỗi địa phương có mức độ phát triển kinh tế khác nhau, bản sắc văn hóa và phong tục tập quán cũng khác nhau. Vì vậy, việc phát triển và quản lý hoạt động KTBĐ đòi hỏi sự chủ động của chính quyền địa phương, trên cơ sở được phân cấp, phân quyền phù hợp. Các thành phố lớn như Hải Phòng nên xem xét thí điểm các ban quản lý phát triển kinh tế đêm với thẩm quyền liên ngành. Đơn vị này cần có ngân sách hoạt động riêng và quyền tham vấn trong quy hoạch đô thị.

Thứ hai, cần điều chỉnh, bố trí hài hòa cho không gian phát triển kinh tế ban đêm bắt nguồn từ hệ thống quy hoạch. Tình trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Hà Nội và TP.HCM cho thấy sự bất cập khi phát triển kinh tế đêm trong lõi đô thị cũ. Cần đưa những quy tắc về quy hoạch hoặc các quy định cấp phép xây dựng tại địa phương. Phát triển KTBĐ thiếu quy hoạch phân khu biệt lập đã dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng về môi trường sinh thái đô thị. Nổi cộm nhất là vấn đề ô nhiễm tiếng ồn từ các tụ điểm giải trí, cùng với việc gia tăng lượng rác thải và mất vệ sinh không gian công cộng, trực tiếp đe dọa không gian sống và sức khỏe của cư dân tại khu vực lân cận. Nhiều dự án, khu phố đi bộ bộc lộ xung đột lợi ích gay gắt giữa mục tiêu phát triển kinh tế và đời sống dân sinh. Việc quy hoạch chưa tạo ra được cơ chế chia sẻ lợi ích hay sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Điều này dẫn đến sự thiếu đồng thuận của cộng đồng khi họ phải trực tiếp chịu đựng những bất tiện về giao thông, rào chắn an ninh và sự xáo trộn nhịp sinh hoạt. Theo đó, quy định rõ trách nhiệm cách âm thuộc về chủ đầu tư dự án mới nếu xây dựng gần các khu vực đã được quy hoạch làm kinh tế đêm. Đồng thời, cần áp dụng công nghệ đo đạc tiếng ồn thời gian thực để xử phạt, thay vì chỉ dựa vào phản ánh của người dân.

 

Bản đồ Foodtour thành phố Hải Phòng.

Thứ ba, cần có sự phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư nhân. Trong đó khu vực công đóng vai trò quản lý, dẫn dắt, kiến tạo cho nguồn vốn tư nhân từ khu vực tư nhân làm động lực phát triển kinh tế ban đêm. Thực tiễn tại nhiều địa phương như Phú Quốc, Đà Nẵng đã cho thấy sự có mặt của các tập đoàn tư nhân đóng vai trò đầu tư cho các hệ sinh thái kinh doanh đã tạo thành điểm nhấn cho một số địa phương có lợi thế về du lịch, tuy nhiên chính quyền và khu vực công cũng cần đóng góp và thể hiện vai trò định hướng quy hoạch. Ví dụ mô hình Phú Quốc (Grand World) rất thành công nhưng khó nhân rộng trong nội đô do thiếu quỹ đất. Đối với Hải Phòng, Khu vực nhà nước cần tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt thông qua đầu tư công vào hạ tầng cứng. Đây là vốn mồi để thu hút tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ. Cần có cơ chế hợp tác công tư (PPP) rõ ràng hơn để doanh nghiệp có thể đầu tư vào các công trình văn hóa công cộng (bảo tàng, nhà hát) và vận hành chúng về đêm.

Thứ tư, cần đa dạng hóa các lĩnh vực hoạt động của kinh tế ban đêm. Hiện tại, sản phẩm kinh tế đêm của Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung vẫn nặng về lĩnh vực ẩm thực và đồ uống có cồn. Bài học từ Sydney (chú trọng công nhân đêm) và London (mở cửa bảo tàng, thư viện) là rất giá trị. Do đó cần mở rộng định nghĩa kinh tế đêm sang các lĩnh vực bán lẻ, thể thao và văn hóa nghệ thuật. Khuyến khích các trung tâm thương mại, bảo tàng, thư viện kéo dài giờ mở cửa. Phát triển hệ thống giao thông công cộng ban đêm (xe buýt đêm, metro giờ muộn) để phục vụ không chỉ du khách mà cả người lao động, tạo nên một nền kinh tế 24h thực sự bền vững.

Thứ năm, nhận thức của một bộ phận cơ quan quản lý và người dân về tầm quan trọng của KTBĐ còn nhiều điểm hạn chế. KTBĐ thường bị gắn với định kiến tiêu cực về các tệ nạn xã hội hoặc kinh tế phi chính thức, dẫn đến cách tiếp cận quản lý mang tính thụ động, cản trở việc phát huy tối đa các giá trị kinh tế - văn hóa mà mô hình này mang lại.

Thứ sáu, về xây dựng và ban hành chính sách. Khung pháp lý hiện hành vẫn thiếu tính đặc thù cho hoạt động về đêm. Các cơ chế khuyến khích, ưu đãi (như thuế, tín dụng, giá điện) chủ yếu vẫn lồng ghép trong quy định chung của nền kinh tế ban ngày. Những rào cản về giới hạn thời gian hoạt động và sự cứng nhắc trong thủ tục cấp phép đã làm giảm sức hút đầu tư mạnh mẽ từ các doanh nghiệp.

Nhóm nghiên cứu tiến hành đánh giá thực trạng phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn thành phố Hải Phòng kết quả thu được như sau:

- Sự chuyển dịch từ tự phát sang có kiểm soát nhưng chưa quy hoạch bài bản. Hoạt động kinh tế đêm tại Hải Phòng đã bước qua giai đoạn hoàn toàn tự phát. Thành phố đã chủ động triển khai các mô hình thí điểm như Phố đi bộ Tam Bạc, Thế Lữ, Quang Trung và các chợ đêm tại Đồ Sơn, Cát Bà. Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn mang tính chất thí điểm, thiếu một quy hoạch phân khu chức năng (zoning) chuyên biệt cho kinh tế đêm. Việc phát triển các tuyến phố đi bộ dựa trên hạ tầng giao thông và khu dân cư hiện hữu (như Thế Lữ) đã bộc lộ bất cập về tiếng ồn và thiếu bãi đỗ xe, chưa giải quyết triệt để bài toán xung đột đô thị.

- Các chương trình như Foodtour là điểm sáng nhưng giá trị gia tăng còn thấp. Hải Phòng đã thành công rực rỡ trong việc định vị thương hiệu Foodtour bản đồ số, tạo nên cơn sốt du lịch ẩm thực bằng đường sắt đối với giới trẻ. Đây là lợi thế cạnh tranh độc đáo so với Hà Nội hay Quảng Ninh. Tuy nhiên, mô hình này chủ yếu dựa vào các hộ kinh doanh cá thể, quán ăn đường phố với mức chi tiêu bình quân của du khách thấp. Chuỗi giá trị chưa được kéo dài sang các dịch vụ mua sắm cao cấp, vui chơi giải trí hay lưu trú hạng sang, dẫn đến tổng doanh thu từ du lịch đêm chưa tương xứng với lượng khách.

- Hạ tầng đầu tư lớn nhưng thiếu đồng bộ cho kinh tế đêm. Hải Phòng đã huy động nguồn lực khổng lồ từ ngân sách và tư nhân để chỉnh trang đô thị (dự án sông Tam Bạc, cầu Hoàng Văn Thụ, các công viên) và phát triển các đại dự án du lịch (Đồi Rồng, Vũ Yên, Cát Bà). Mặc dù vậy, hạ tầng mềm và hạ tầng kết nối ban đêm lại là điểm nghẽn. Hệ thống chiếu sáng nghệ thuật chưa phủ rộng, wifi công cộng hạn chế, và đặc biệt là hệ thống vận tải hành khách công cộng (xe buýt, taxi) chưa được điều chỉnh để phục vụ khung giờ đêm muộn (sau 22h), làm giảm khả năng tiếp cận các điểm vui chơi của du khách.

- Vai trò dẫn dắt của nhóm doanh nghiệp "Sếu đầu đàn" đang dần hình thành. Khác với mô hình phát triển dựa hoàn toàn vào hộ kinh doanh nhỏ lẻ trước đây, KTBĐ Hải Phòng đang chứng kiến sự tham gia sâu của các tập đoàn lớn. Dự án Night Square (TD Group), quần thể vui chơi tại Vũ Yên (Vingroup) hay các sản phẩm du lịch đêm tại Cát Bà (Sun Group) đang hình thành những tổ hợp "all-in-one" khép kín. Đây là xu hướng tích cực, hứa hẹn tạo ra các sản phẩm đêm chất lượng cao, an toàn và khắc phục được các hạn chế về tiếng ồn hay an ninh trật tự của mô hình phố đi bộ truyền thống.

Từ đánh giá thực trạng, nhóm nghiên đề xuất mô hình quản lý, vận hành: Thường trực Tổ công tác về Phát triển Kinh tế Ban đêm Thành phố Hải Phòng chỉ đạo, điều hành toàn diện hoạt động của Chương trình, phân công 01 đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Ban chủ nhiệm về Phát triển Kinh tế Ban đêm chỉ đạo trực tiếp các hoạt động của Chương trình; xem xét, giải quyết các công việc thường xuyên của Chương trình. Phân công một đồng chí Lãnh đạo Sở Tài Chính làm Tổ phó thường trực. Thành viên là đại diện các Sở, cơ quan: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Công Thương; Quốc phòng; Công an; Tài chính; Nội vụ; Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, UBND tthành phố Hải Phòng, các viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội du lịch, và cộng đồng kinh doanh tham gia Tổ giúp việc Ban Chủ nhiệm và đại diện một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ và chuyên gia độc lập; Tổ công tác có nhiệm vụ điều phối, đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị, Sở, ngành, địa phương tổ chức triển khai các nội dung tại Chương trình. Định kỳ hàng tháng, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh về tình hình, kết quả thực hiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Chương trình. Tổ công tác sử dụng bộ máy giúp việc là các đơn vị chức năng thuộc Sở Tài chính và được huy động nhà khoa học, chuyên gia trong nước, quốc tế để thực hiện nhiệm vụ được giao. Kinh phí hoạt động của Tổ công tác được bố trí từ ngân sách nhà nước cấp cho Sở và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Tổ công tác tự giải thể khi đã hoàn thành triển khai các nhiệm vụ tại Chương trình. Giám đốc Sở Tài chính quyết định phê duyệt danh sách thành viên Tổ công tác và ban hành Quy chế hoạt động của Tổ công tác.

Để triển khai được mô hình kinh tế ban đêm tại Hải Phòng, ban chủ nhiệm đã đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến năm 2030 như sau: Giải pháp khai thác thế mạnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội trong việc phát triển kinh tế ban đêm; Giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế ban đêm; Giải pháp về cơ sở hạ tầng và đầu tư phục vụ phát triển kinh tế ban đêm (Giải pháp nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng; Giải pháp đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế ban đêm); Giải pháp về nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế ban đêm; Giải pháp về các yếu tố khác hỗ trợ phát triển kinh tế ban đêm; Giải pháp về quy hoạch phân khu chức năng phát triển kinh tế ban đêm; Giải pháp về phát triển hoạt động giải trí vào ban đêm (Mô hình tham quan du lịch về đêm; Mô hình biểu diễn văn hóa, nghệ thuật ban đêm; Mô hình mua sắm về đêm; Mô hình hoạt động thể thao, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp; Mô hình sản phẩm, dịch vụ đẳng cấp hướng tới nhóm khách hàng “siêu giàu/hạng sang”); Giải pháp về phát triển hoạt động ẩm thực vào ban đêm; Giải pháp về phát triển hoạt động mua sắm vào ban đêm; Giải pháp về phát triển hoạt động du lịch vào ban đêm; Giải pháp về phát triển hoạt động khác vào ban đêm./.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.