Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 14452 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó mối đe dọa an ninh môi trường do ô nhiễm nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Hải Dương (17/06/2026)
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề bảo vệ môi trường ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển bền vững của mỗi địa phương. Trong các thành phần môi trường, nguồn nước mặt giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống dân cư, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ cũng như duy trì cân bằng hệ sinh thái. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển đô thị và gia tăng dân số đã tạo áp lực lớn lên tài nguyên nước, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm, suy giảm chất lượng nguồn nước mặt và kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội, sức khỏe cộng đồng cũng như an ninh môi trường.
An ninh môi trường hiện được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của an ninh phi truyền thống và có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh quốc gia. Không giống các mối đe dọa truyền thống, các nguy cơ về môi trường thường diễn biến âm thầm, tích lũy trong thời gian dài nhưng có khả năng gây tác động trên diện rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân, sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và áp lực khai thác tài nguyên ngày càng lớn, việc chủ động phòng ngừa, giám sát và ứng phó với các nguy cơ ô nhiễm môi trường đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Hải Dương. Quan điểm này cũng được khẳng định trong các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên nước và chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.
Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Hồng, có vị trí chiến lược trong tam giác phát triển Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Với hệ thống sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Luộc cùng nhiều kênh, hồ và công trình thủy lợi, nguồn nước mặt của tỉnh không chỉ phục vụ sinh hoạt cho gần hai triệu dân mà còn là yếu tố quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và phát triển dịch vụ. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng công nghiệp, mở rộng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề và quá trình đô thị hóa đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, song cũng làm gia tăng lượng nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất phát sinh. Nếu không được kiểm soát hiệu quả, đây sẽ là nguồn gây ô nhiễm đáng kể đối với các lưu vực sông và hệ thống thủy lợi của địa phương.
Thực tế cho thấy, chất lượng nước mặt tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện dấu hiệu suy giảm. Nhiều đoạn sông, kênh tiêu và khu vực tiếp nhận nước thải có các chỉ tiêu ô nhiễm vượt quy chuẩn cho phép, đặc biệt là các thông số liên quan đến chất hữu cơ, vi sinh và dinh dưỡng. Bên cạnh nguồn thải từ các khu công nghiệp, ô nhiễm còn xuất phát từ nước thải sinh hoạt chưa được xử lý, hoạt động chăn nuôi tập trung, sản xuất nông nghiệp, làng nghề và việc xả thải không đúng quy định của một số cơ sở sản xuất. Trong khi đó, hệ thống quan trắc, giám sát và cảnh báo sớm vẫn còn những hạn chế nhất định, khiến việc phát hiện, xử lý và phòng ngừa các nguy cơ ô nhiễm chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xuất phát từ yêu cầu đó, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh "Nghiên cứu đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó mối đe dọa an ninh môi trường do ô nhiễm nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Hải Dương" đã được triển khai nhằm xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác bảo đảm an ninh môi trường của tỉnh trong giai đoạn mới. Nhiệm vụ do Viện An ninh phi truyền thống, Trường Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì thực hiện, Thiếu tướng, GS.TS. Nguyễn Văn Nhật làm chủ nhiệm.

Mức độ lo lắng của người dân, chủ doanh nghiệp Hải Dương về nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt liên quan đến các hoạt động sản xuất của các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương (%).
Mục tiêu của nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiện trạng ô nhiễm nguồn nước mặt mà còn hướng tới nhận diện đầy đủ các nguy cơ đe dọa an ninh môi trường, phân tích nguyên nhân, dự báo xu hướng phát triển của các nguy cơ trong thời gian tới và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực phòng ngừa, giám sát và ứng phó của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như cộng đồng dân cư. Đây là hướng tiếp cận mang tính liên ngành, kết hợp giữa khoa học môi trường, quản trị rủi ro, an ninh phi truyền thống và quản lý phát triển bền vững.
Để đạt được mục tiêu trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành tổng quan toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến an ninh môi trường, bảo vệ nguồn nước và quản lý các nguy cơ môi trường. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng khung lý luận về an ninh môi trường nguồn nước mặt, làm rõ nội hàm của khái niệm mối đe dọa an ninh môi trường, các yếu tố cấu thành, cơ chế phát sinh và tác động của ô nhiễm nguồn nước đối với phát triển kinh tế - xã hội, sức khỏe cộng đồng và ổn định xã hội. Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích hệ thống chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường, tài nguyên nước và ứng phó với các nguy cơ an ninh phi truyền thống, tạo nền tảng khoa học và pháp lý cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện của tỉnh Hải Dương.
Một điểm nổi bật của đề tài là việc triển khai khảo sát thực tế với quy mô lớn trên địa bàn toàn tỉnh. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện điều tra 830 phiếu khảo sát, bao gồm đại diện hộ dân, cán bộ quản lý, chuyên gia và các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh tại 12 huyện, thành phố và thị xã của tỉnh Hải Dương. Quy mô khảo sát rộng cùng sự đa dạng của các nhóm đối tượng giúp nghiên cứu phản ánh toàn diện nhận thức của cộng đồng, thực trạng ô nhiễm nguồn nước mặt cũng như hiệu quả của công tác quản lý môi trường từ nhiều góc độ khác nhau. Bên cạnh điều tra xã hội học, nhóm nghiên cứu còn thu thập, kế thừa và phân tích hệ thống số liệu quan trắc môi trường, tài liệu chuyên ngành, báo cáo của các cơ quan quản lý và kết quả của nhiều nghiên cứu trước đây nhằm bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu.
Trên cơ sở hệ thống dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích toàn diện hiện trạng chất lượng nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đồng thời nhận diện các yếu tố có khả năng tác động đến an ninh môi trường trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù công tác quản lý môi trường của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từng bước được hoàn thiện và hoạt động thanh tra, kiểm tra được tăng cường, song nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt vẫn hiện hữu do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguồn phát sinh ô nhiễm không chỉ đến từ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề mà còn xuất phát từ nước thải sinh hoạt, hoạt động chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và việc khai thác tài nguyên chưa hợp lý. Những nguồn thải này có sự tác động tổng hợp, tạo áp lực lớn đối với các lưu vực sông, kênh và hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, ô nhiễm nguồn nước mặt không đơn thuần là vấn đề môi trường mà còn có mối liên hệ trực tiếp với an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và sức khỏe cộng đồng. Khi chất lượng nguồn nước suy giảm, không chỉ chi phí xử lý nước sinh hoạt tăng lên mà hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nhiều ngành công nghiệp phụ thuộc vào nguồn nước cũng chịu ảnh hưởng đáng kể. Mặt khác, tình trạng ô nhiễm kéo dài có thể làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng đến đời sống dân cư và làm giảm sức hấp dẫn đầu tư của địa phương. Đây là những yếu tố cho thấy việc bảo vệ nguồn nước cần được nhìn nhận dưới góc độ bảo đảm an ninh môi trường, thay vì chỉ tập trung xử lý các sự cố ô nhiễm đơn lẻ.
Một trong những nội dung quan trọng của đề tài là đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với bảo vệ nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Thông qua khảo sát, phỏng vấn chuyên gia và phân tích hệ thống văn bản quản lý, nhóm nghiên cứu đã làm rõ những kết quả đạt được cũng như những khó khăn, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện. Theo đó, công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý ở một số lĩnh vực còn chưa thật sự đồng bộ; việc chia sẻ dữ liệu giữa các ngành còn hạn chế; hệ thống quan trắc môi trường chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu giám sát liên tục; nguồn nhân lực phục vụ công tác quản lý môi trường còn thiếu cả về số lượng và chuyên môn; trong khi nguồn lực đầu tư cho các hoạt động phòng ngừa và ứng phó với các nguy cơ môi trường vẫn còn nhiều khó khăn. Những hạn chế này ảnh hưởng đến khả năng phát hiện sớm, cảnh báo và xử lý kịp thời các nguy cơ ô nhiễm nguồn nước.
Bên cạnh việc đánh giá thực trạng, nghiên cứu còn tiến hành phân tích các yếu tố có khả năng làm gia tăng nguy cơ mất an ninh môi trường trong thời gian tới. Quá trình đô thị hóa nhanh, sự mở rộng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, gia tăng dân số, nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn, cùng với những tác động của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan được xác định là những yếu tố có thể làm tăng áp lực đối với tài nguyên nước mặt của tỉnh. Đặc biệt, Hải Dương nằm trong hệ thống lưu vực sông có tính liên vùng, vì vậy chất lượng nguồn nước trên địa bàn không chỉ chịu ảnh hưởng từ các hoạt động trong tỉnh mà còn chịu tác động từ các địa phương lân cận. Điều này đòi hỏi công tác bảo vệ nguồn nước cần được triển khai theo hướng liên kết vùng, tăng cường phối hợp giữa các địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh môi trường do ô nhiễm nguồn nước mặt theo hướng đồng bộ, kết hợp giữa giải pháp về thể chế, quản lý, khoa học công nghệ và nâng cao nhận thức cộng đồng. Trước hết, nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đặc biệt là công tác kiểm soát các nguồn xả thải. Đồng thời, cần rà soát, cập nhật các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo hướng gắn kết chặt chẽ với yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước và phát triển bền vững, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường.
Đối với công tác giám sát môi trường, đề tài đề xuất tăng cường đầu tư hệ thống quan trắc tự động, xây dựng cơ sở dữ liệu số về chất lượng nguồn nước mặt và từng bước ứng dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý môi trường. Việc kết hợp giữa hệ thống quan trắc tự động, công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS), dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần nâng cao khả năng dự báo, cảnh báo sớm các nguy cơ ô nhiễm, hỗ trợ các cơ quan quản lý đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn. Đây cũng là xu hướng quản lý môi trường đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Một nhóm giải pháp quan trọng khác được nghiên cứu đề cập là nâng cao vai trò của cộng đồng và doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường. Theo đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước, hạn chế xả thải trực tiếp ra môi trường và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động giám sát môi trường. Đồng thời, các doanh nghiệp cần được khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn, sản xuất sạch hơn và tăng cường trách nhiệm xã hội trong việc bảo vệ môi trường. Khi chính quyền, doanh nghiệp và người dân cùng tham gia, hiệu quả phòng ngừa và ứng phó với các nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sẽ được nâng lên rõ rệt.
Một điểm nổi bật của nhiệm vụ là việc tiếp cận vấn đề dưới góc độ an ninh phi truyền thống, qua đó mở rộng phạm vi nghiên cứu từ bảo vệ môi trường sang bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội và phát triển bền vững. Cách tiếp cận này giúp nhận diện đầy đủ hơn các nguy cơ tiềm ẩn, đồng thời tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách quản lý mang tính dài hạn, chủ động và thích ứng trước những biến động ngày càng phức tạp của môi trường tự nhiên và bối cảnh phát triển kinh tế.
Kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa đối với tỉnh Hải Dương mà còn có giá trị tham khảo cho nhiều địa phương có điều kiện tương đồng trong khu vực Đồng bằng sông Hồng. Những luận cứ khoa học, kết quả điều tra thực tiễn và hệ thống giải pháp được đề xuất có thể được vận dụng trong quá trình xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên nước và bảo đảm an ninh môi trường ở cấp địa phương cũng như cấp vùng. Nhiệm vụ đã cung cấp hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn và các giải pháp có giá trị khoa học và khả năng ứng dụng cao. Kết quả của nhiệm vụ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường, tăng cường năng lực phòng ngừa và ứng phó với các nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và bảo đảm an ninh môi trường trong giai đoạn mới.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu biên soạn bảng nguồn và sử dụng kỹ thuật số để đo lường nền... (29/06/2026)
- Tác động của cấu trúc thị trường tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở... (26/06/2026)
- Công tác quản lý hoạt động phổ biến phim trên không gian mạng (24/06/2026)
- Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2025: Nỗ lực hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã... (22/06/2026)
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và đề xuất giải pháp phòng chống bệnh... (18/06/2026)
