Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 11726 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu giải pháp khoa học và công nghệ quản lý tổng hợp một số bệnh chính có nguồn gốc trong đất hại cây ba kích tại Quảng Ninh và một số tỉnh phía Bắc (27/03/2026)
Ba kích có tên khoa học là Morinda officinalis How, thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), và được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như Ba kích thiên, Sáy cáy (tiếng Thái), Chầu phóng sì (tiếng Tày). Ba kích được trồng chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và đang là một trong những loại cây dược liệu quý đem lại giá trị kinh tế cao cho người trồng. Đặc biệt, nhiều năm trở về đây, rất nhiều người dân thuộc tỉnh Quảng Ninh đã chuyển hướng sang trồng ba kích để tăng thu nhập, nên diện tích trồng ba kích ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, thực tế sản xuất ba kích tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các tỉnh khác trên cả nước nói chung đang gặp nhiều trở ngại lớn. Cùng với quá trình canh tác tập trung và thâm canh cao đã tạo điều kiện cho bệnh hại phát sinh đặc biệt là bệnh vàng lá thối rễ ba kích. Đặc biệt, năm 2020, tại huyện Ba Chẽ (nay thuộc xã Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh), Hợp tác xã Toàn Dân đã có khoảng 100 ha ba kích bị chết, tỷ lệ bệnh trung bình cao nhất từ 40 - 50%, có những vườn tỷ lệ bệnh lên đến 70% và thậm chí không cho thu hoạch. Đây là bệnh hại nghiêm trọng trên cây ba kích không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước khác trên thế giới.
Để góp phần tìm ra giải pháp khoa học công nghệ phòng chống nhóm bệnh hại chính có nguồn gốc trong đất hại cây ba kích, Viện Bảo vệ thực vật đã được Bộ Khoa học và Công nghệ giao thực hiện đề tài “Nghiên cứu giải pháp khoa học và công nghệ quản lý tổng hợp một số bệnh chính có nguồn gốc trong đất hại cây ba kích tại Quảng Ninh và một số tỉnh phía Bắc”. Đây là nhóm đối tượng gây hại chính, gây thiệt hại rất lớn đối với sản xuất ba kích tại Quảng Ninh và một số tỉnh miền núi phía Bắc. Sau khi xác định nguyên nhân gây bệnh, nhóm đề tài nghiên cứu và đưa ra các giải pháp khoa học và công nghệ phòng chống bệnh vàng lá thối rễ và tuyến trùng.
Kết quả nghiên cứu tổng quan cho thấy, cây ba kích là loài dược liệu bản địa có yêu cầu sinh thái tương đối đặc thù, thích hợp với điều kiện đồi núi phía Bắc, nơi có độ che phủ bóng râm trung bình từ 40 - 60%, đất tơi xốp, giàu mùn, có khả năng thoát nước tốt và pH dao động từ trung tính đến hơi chua. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc bố trí ba kích trên những vùng đất dốc, đất được luân canh hoặc đất được cải tạo hữu cơ hợp lý giúp giảm đáng kể tỷ lệ cây bị vàng lá, thối rễ. Công tác nhân giống và kỹ thuật trồng, các nghiên cứu trong nước cho thấy phương pháp nhân giống bằng giâm hom vẫn là biện pháp chủ đạo, tuy nhiên còn tồn tại một số hạn chế như hệ số nhân thấp, chất lượng hom không đồng nhất và tỷ lệ nhiễm bệnh từ khâu giống còn cao. Trong khi đó, các kết quả nghiên cứu về nhân giống vô tính, đặc biệt là nuôi cấy mô, dù đã có những tiền đề quan trọng nhưng nhìn chung mới chỉ dừng ở mức độ thử nghiệm, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất đại trà. Tình hình sâu bệnh hại, đặc biệt là nhóm bệnh có nguồn gốc trong đất, đang nổi lên như yếu tố hạn chế lớn đối với hiệu quả và tính bền vững của sản xuất ba kích. Các công trình nghiên cứu đã ghi nhận sự hiện diện và gây hại của nhiều tác nhân quan trọng như F. oxysporum, F. proliferatum, F. fujikuroi và tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne spp., trong đó nhiều trường hợp cây bị vàng lá, thối rễ, chết hàng loạt tại các tỉnh như Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng. Các biện pháp kỹ thuật và mô hình trồng ba kích đã được triển khai ở một số địa phương bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực trong cải thiện sinh trưởng và giảm mức độ gây hại của bệnh vàng lá thối rễ. Việc nâng cao hiệu quả sản xuất ba kích đòi hỏi một hướng tiếp cận tổng hợp, trong đó đặc biệt chú trọng công tác quy hoạch vùng trồng phù hợp, hoàn thiện quy trình nhân giống, nghiên cứu làm rõ cơ chế và mức độ gây hại của các tác nhân bệnh chính, đồng thời xây dựng bộ giải pháp quản lý tổng hợp bệnh vàng lá thối rễ và tuyến trùng có khả năng áp dụng rộng rãi và bền vững tại các vùng trồng trọng điểm.
Kết quả điều tra bệnh vàng lá thối rễ gây hại phổ biến, tỷ lệ cây bị bệnh tăng theo tuổi cây, dao động từ 16,82 - 45,44% ở vườn một năm tuổi, tăng lên ở vườn 2 - 3 năm tuổi và cao nhất ở vườn 4 năm tuổi với tỷ lệ bệnh dao động từ 52,22 - 85,45%. Kết quả giám định xác định nấm Fusarium oxysporum là tác nhân chính gây bệnh vàng lá thối rễ và tuyến trùng M. incognita là là loài gây hại chính cây ba kích trong nhóm tuyến trùng thu thập được tại Quảng Ninh và một số tỉnh miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Lạng Sơn). Sau 50 ngày lây nhiễm đồng thời nấm F. oxysporum và tuyến trùng M. incognita, đã bắt đầu ghi nhận sự xuất hiện của triệu chứng vàng lá thối rễ với tỷ lệ bệnh dao động từ 76,67 - 86,67%, và tỷ lệ bệnh đạt 100% sau 90 ngày lây nhiễm. Lây nhiễm nấm F. oxysporum ở mật độ 10⁵ bào tử/ml trước, sau đó lây nhiễm tuyến trùng M. incognita ở mật độ 150 tuyến trùng/100g đất, tỷ lệ bệnh sau 90 ngày dao động từ 73,33 - 100%, thấp hơn so với công thức lây nhiễm tuyến trùng trước, trong đó tỷ lệ bệnh đạt 100% ở các chủng nấm VN2008, BKVN7, BKVP4, BKBG8 và BKLS10. Lây nhiễm các loài nấm phân lập được tại tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh phía Bắc, tại thời điểm 70-90 ngày mật độ 10⁷ tỷ lệ biểu hiện triệu chứng đạt 100% sau đó giảm dần ở mật độ 105, 103.
Nấm F. oxysporum phát triển tốt nhất trên môi trường PDA, ở điều kiện pH từ 7,0 đến 7,5 và nhiệt độ 28oC đến 30oC. Thời gian hoàn thành vòng đời của tuyến trùng M. incognita trên cây ba kích là 41,67 ngày. Nấm F. oxysporum và tuyến trùng M. incognita đều gây hại nhẹ ở vườn một năm tuổi và gây hại nặng hơn ở những vườn có tuổi cây cao hơn. Việc trồng ba kích không có cây che bóng và che bóng 60%, thì tỷ lệ bệnh không có nhiều sai khác. Mật độ tuyến trùng gây hại nặng hơn ở vườn ba kích trồng trên đất bằng thoát nước kém so với vườn trồng trên đất đồi dối thoát nước tốt. Giá thể bầu ươm được trộn theo tỷ lệ: 70% đất, 20% phân chuồng hoai mục, 2% supe lân lâm thao + 8% chế phẩm sinh học SH-Lifu và sử dụng dung dịch giâm cành Kina R206 + chế phẩm sinh học SH-Lifu cho các chỉ tiêu sinh trưởng và đạt hiệu quả phòng chống bệnh vàng lá thối rễ và tuyến trùng sau 8 tháng giâm hom. Đối với nấm F. oxysporum trong điều kiện in vitro, chế phẩm sinh học BIO BẠC 50WP (Bacillus subtilis) có hiệu lực cao nhất đạt 75,81% sau 7 ngày xử lý và điều kiện chậu vại hiệu lực đạt 73,48% sau 1 tháng xử lý. Thuốc Talent 50WP (prochloraz) và Folicur 430SC (tebuconazole) có hiệu lực cao nhất đạt 92,07% sau 7 ngày xử lý và điều kiện chậu vại hiệu lực đạt 80,61 - 83,23% sau 1 tháng xử lý. Chế phẩm sinh học BIO BẠC 50WP (Bacillus subtilis) có hiệu lực cao nhất đạt 66,60% đối với bệnh vàng lá thối rễ sau 7 tháng xử lý trên vườn sản xuất cây giống và 64,51 - 69,69% sau 2 tháng xử lý trên vườn cây ba kích. Thuốc Talent 50WP (prochloraz), Folicur 430SC (tebuconazole), Eddy 72WP (cuprous oxide + dimethomorph) và Aliette 800WG (fosetyl aluminium) có hiệu lực cao nhất dao động từ 72,25 - 76,12% sau 7 tháng xử lý trên vườn sản xuất cây giống và 67,35 - 76,36% sau 2 tháng xử lý bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích. Đối với tuyến trùng M. incognita, hiệu lực của chế phẩm SH-Lifu đạt 44,82 - 66,84% và hiệu lực của chế phẩm Nấm tím Paecilomyces lilacinus đạt hiệu lực cao nhất 40,30 - 63,15% sau 30 ngày xử lý lần 1 trong điều kiện chậu vại, sản xuất cây giống và ngoài đồng ruộng. Tervigo 020SC (abamectin) đạt hiệu lực 72,21 - 80,78% và Marshal 200SC (carbosulfan) đạt 70,14 - 78,91% có hiệu lực cao nhất đối với tuyến trùng M. incognita sau 30 ngày xử lý trong điều kiện chậu vại, sản xuất cây giống và ngoài đồng ruộng. Đã xây dựng được 02 quy trình quản lý tổng hợp bệnh có nguồn gốc trong đất hại cây ba kích trong sản xuất cây giống và sản xuất thương phẩm.

Mô hình trồng mới cây ba kích năm thứ ba.
Đã sản xuất được 320.000 cây giống ba kích tím. Mô hình vườn ươm cây giống có tỷ lệ lợi nhuận tăng 65,25% so với đối chứng, tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn là 88%. Mô hình trồng mới 1,5ha đạt hiệu quả phòng chống 91,47 - 92,88% đối với tuyến trùng và 79,05-80,69% đối với bệnh vàng lá thối rễ, lợi nhuận tính cho 1ha tăng 65,73% so với đối chứng, tỷ lệ cây sống trên 90%. Mô hình sản xuất thương phẩm đạt hiệu quả phòng chống 82,66 - 85,47% đối với tuyến trùng và 81,07 - 82,51% đối với bệnh vàng lá thối rễ, lợi nhuận tính cho 1ha tăng 70,44% so với đối chứng, tỷ lệ cây sống trên 80%. Kết quả phân tích các mẫu lấy tại mô hình trồng mới và sản xuất thương phẩm đều không phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong củ ba kích. Kết quả phân tích hàm lượng độ ẩm dao động trong khoảng 10,0 - 10,5%, tro toàn phần từ 4,5 - 4,8%, tỷ lệ vụn nát 3,4 - 3,6% và tạp chất ở mức thấp (0,1 - 0,3%). Hàm lượng chất chiết đạt từ 60,5 - 61,5%. Các chỉ tiêu này đều phù hợp với yêu cầu chất lượng theo Dược điển Việt Nam V. Định lượng hoạt chất asperuloside trong củ ba kích dao động từ 0,0048 - 0,0063% và hoạt chất monotropein dao động từ 0,60 - 0,68% tại 02 mô hình sản xuất thương phẩm.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng.
- Nghiên cứu và thử nghiệm mô hình xử lý nước và tạo cảnh quan sinh thái bằng hệ thống... (13/04/2026)
- Nghiên cứu ứng dụng vi tảo và chế phẩm vi sinh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng... (10/04/2026)
- Nghiên cứu xác định chủng nấm gây bệnh hại trong nuôi trồng Cordyceps militaris và... (08/04/2026)
- Nghiên cứu đánh giá khả năng thực hiện giảm phát thải khí nhà kính cho các đô thị... (06/04/2026)
- Nghiên cứu hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật và định mức cấp phối vật liệu cho bê tông... (03/04/2026)
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát, vận hành cống thủy lợi - hệ... (01/04/2026)
