Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 14402
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và đề xuất giải pháp phòng chống bệnh do virus Tembusu gây ra ở vịt (18/06/2026)

Ngành chăn nuôi vịt tại Việt Nam trong những năm gần đây đang phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn sản lượng, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu nông sản và đảm bảo an ninh thực phẩm quốc gia. Tuy nhiên, song song với sự phát triển đó, ngành chăn nuôi vịt cũng phải đối mặt với ngày càng nhiều mối đe dọa từ các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, trong đó có bệnh do virus Tembusu (TMUV) – một tác nhân gây bệnh mới nổi đang gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho người chăn nuôi.

Bệnh do virus Tembusu lần đầu được ghi nhận tại Trung Quốc vào giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2010, với biểu hiện đặc trưng là giảm đẻ đột ngột trong vòng 1 – 2 tuần. Ngoài ra, đàn vịt còn có các triệu chứng như giảm ăn uống, tiêu chảy phân xanh lá cây, chảy nước mũi, mất điều hòa vận động và bại liệt. Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên đến 90%, còn tỷ lệ chết dao động từ 5% đến 30%. Năm 2011, Cao và cộng sự đã phân lập và nhận diện tác nhân gây bệnh là virus Tembusu. Chỉ trong đợt dịch năm 2010, ổ dịch này đã lan từ phía Bắc đến phía Đông Trung Quốc, tác động đến hơn 120 triệu vịt đẻ và 15 triệu vịt thịt, gây thiệt hại hàng tỷ đô la cho ngành chăn nuôi. Virus Tembusu thuộc giống Flavivirus, họ Flaviviridae, được phân lập lần đầu vào năm 1955 ở loài muỗi tại Malaysia. Đây là một ARN virus có độ dài khoảng 11 kilobases, mã hóa cho 3 protein cấu trúc và 7 protein không cấu trúc. Điều đáng lo ngại là virus không chỉ tác động đến vịt đẻ mà còn có thể lây nhiễm cho vịt thịt, gà, ngỗng và chuột. Đặc biệt, các nghiên cứu gần đây cho thấy virus có khả năng truyền lây theo những đường khác ngoài vec-tơ muỗi truyền thống.

Tại Việt Nam, lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn vịt nuôi trước đây chủ yếu tập trung vào các bệnh như viêm gan vịt, dịch tả vịt và cúm gia cầm. Thời gian gần đây, ở nhiều địa phương trong cả nước đã xuất hiện vịt có biểu hiện nghi ngờ bệnh do virus Tembusu như giảm đẻ mạnh đột ngột, bại liệt, buồng trứng xuất huyết. Từ năm 2020 đến nay, bệnh đã lây lan ra nhiều tỉnh thành, với tỷ lệ chết ở vịt có thể lên tới 70 - 80% trong một số trường hợp. Mặc dù vậy, đến thời điểm triển khai đề tài, các hiểu biết khoa học về virus Tembusu ở Việt Nam còn dừng lại ở mức độ mô tả một số đặc điểm bệnh và phân lập virus mà chưa có phân tích sâu về đặc điểm di truyền và dịch tễ học phân tử. Chính khoảng trống khoa học đó đã đặt ra nhu cầu cấp thiết phải có một công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về dịch tễ học, bệnh lý và giải pháp phòng chống bệnh do virus Tembusu gây ra ở vịt nuôi tại Việt Nam. Trước thực trạng đó, đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và đề xuất giải pháp phòng chống bệnh do virus Tembusu gây ra ở vịt" đã được Học viện Nông nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện và TS. Đặng Hữu Anh làm chủ nhiệm, thực hiện trong giai đoạn từ tháng 10/2021 đến tháng 9/2025.

Triệu chứng vịt khó di chuyển và ngã ngữa.

Nhóm nghiên cứu đã thiết kế, điều tra thử và hoàn thiện phiếu điều tra dành cho các trang trại chăn nuôi vịt, phục vụ mục đích phân tích đặc điểm dịch tễ học mô tả và đánh giá yếu tố nguy cơ. Mẫu được thu thập theo QCVN 01-83:2011/BNNPTNT tại 8 tỉnh đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau, gồm Phú Thọ, Lạng Sơn, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Nam, Đắk Lắk, Bà Rịa-Vũng Tàu và Hậu Giang. Phương pháp xét nghiệm chính để xác định virus Tembusu là RT-LAMP - một kỹ thuật khuếch đại đẳng nhiệt đơn giản, nhanh chóng cho kết quả trong vòng 45 - 60 phút và có thể thực hiện tại thực địa mà không cần máy luân nhiệt phức tạp. Song song đó, phương pháp RT-PCR được tối ưu hóa và áp dụng để nhân gen, giải trình tự virus, đồng thời được xây dựng thành Dự thảo TCVN chẩn đoán bệnh động vật.

Kết quả điều tra cho thấy, virus Tembusu đã xuất hiện ở đàn vịt nuôi tại tất cả các tỉnh được khảo sát. Tỷ lệ lưu hành virus Tembusu tại các trang trại vịt ở Việt Nam đạt trung bình 7,95%. Trong đó, vịt dưới 20 tuần tuổi là nhóm có tỷ lệ lưu hành cao nhất, dao động từ 8,39% đến 8,62%. TMUV được phát hiện chủ yếu tại các trang trại chăn nuôi quy mô vừa (13,79%) và xuất hiện ở cả vịt nuôi hướng trứng lẫn hướng thịt, với tỷ lệ trong khoảng 7,14 - 8,27%. Đáng chú ý, tỷ lệ lưu hành TMUV ở vịt nội (12,75%) cao hơn đáng kể so với vịt nhập ngoại (6,25%), gợi ý sự khác biệt về cảm thụ giữa các giống vịt.

Về đặc điểm di truyền phân tử, qua giải trình tự và phân tích các gen E, PrM và NS5, các chủng TMUV lưu hành tại Việt Nam trong giai đoạn 2021 – 2023 đều thuộc nhóm clade 2.1, có sự tương đồng cao với các chủng virus Tembusu tại Thái Lan và Trung Quốc năm 2010 – 2013. Tuy nhiên, các chủng này đã xuất hiện sự biến đổi di truyền đáng kể ở gen E với mức sai khác lên đến 5,7% so với các chủng đã công bố trước, làm gia tăng nguy cơ suy giảm hiệu quả bảo hộ của các vắc xin TMUV hiện đang lưu hành.

Trong quá trình điều tra dịch tễ, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện hiện tượng đồng nhiễm giữa TMUV với một số vi sinh vật gây bệnh khác trên đàn vịt, như virus dịch tả vịt và vi khuẩn E. coli, làm phức tạp thêm bức tranh lâm sàng và gây khó khăn cho công tác chẩn đoán thực địa.

Nghiên cứu phân lập virus Tembusu và xác định một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do virus Tembusu gây ra ở vịt nuôi tại Việt Nam. Từ các mẫu bệnh phẩm thu thập được, nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc phân lập và nuôi cấy virus Tembusu trên cả phôi vịt và môi trường tế bào. Ba chủng virus được phân lập, ký hiệu là Tem_07, Tem_11 và Tem_17, đã được khảo sát kỹ lưỡng về các đặc tính sinh học, bao gồm chỉ số LD₅₀ dao động từ 5,0 - 5,4 log10; chỉ số ELD₅₀ từ 5,4 - 5,9 log10; chỉ số EID₅₀ từ 6,7 - 7,1 log10 và TCID₅₀ từ 4,4 - 4,6 log10. Đây là những thông số quan trọng phản ánh khả năng gây bệnh và sức sống của virus, phục vụ cho công tác sản xuất vắc xin sau này.

Phân tích bệnh lý cho thấy vịt nhiễm TMUV thuộc Clade 2.1 chủ yếu biểu hiện các triệu chứng lâm sàng gồm sốt, tiêu chảy phân xanh, chậm chạp ủ rũ, xù lông, co giật và giảm đẻ đột ngột ở vịt đẻ. Về bệnh tích đại thể, những tổn thương thường gặp nhất là tim hoại tử, gan sưng, lách sưng, thận tổn thương và buồng trứng xuất huyết. Trong các trường hợp đồng nhiễm, bệnh tích có thể phức tạp hơn với tim phủ màng giả (khi đồng nhiễm E. coli), ruột non xuất huyết và manh tràng tích casein (khi đồng nhiễm virus dịch tả vịt). Nhóm nghiên cứu cũng đã xây dựng quy trình kiểm nghiệm và nghiên cứu điều kiện bảo quản các chủng virus phân lập được, đảm bảo duy trì hoạt lực và tính nguyên vẹn của vật liệu sinh học phục vụ các nghiên cứu tiếp theo. Năm trình tự gen của virus Tembusu đã được công bố lên ngân hàng gen quốc tế Genbank với các mã số PQ363004.1, PQ363002.1, PQ363003.1, PV467746.1 và PV467747.1, qua đó khẳng định tính minh bạch và chia sẻ kết quả khoa học với cộng đồng quốc tế.

Trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu dịch tễ và bệnh lý, nhóm nghiên cứu tiến hành xác định và đánh giá định lượng các yếu tố nguy cơ làm phát sinh bệnh Tembusu ở vịt nuôi. Kết quả phân tích thống kê đã chỉ ra bốn yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, bao gồm: trang trại không có hàng rào xung quanh, vịt được chăn thả cùng với đàn vịt của nhà khác, vịt có tiếp xúc với động vật hoang dã, và trang trại không thực hiện khử trùng ở cổng vào. Đây là những căn cứ khoa học thiết thực giúp người chăn nuôi và cán bộ thú y địa phương có biện pháp can thiệp có mục tiêu, hiệu quả hơn.

Về giải pháp phòng bệnh tổng thể, nhóm nghiên cứu đề xuất áp dụng theo quy trình hai bước: bước đầu phát hiện bệnh sớm bằng phương pháp RT-LAMP tại thực địa, sau đó xác nhận chẩn đoán bằng RT-PCR để giải trình tự virus Tembusu. Đối với các trường hợp phát hiện bệnh, cần cách ly vịt bệnh ngay lập tức và triển khai các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt theo quy định hiện hành. Về vắc xin phòng bệnh, kết quả nghiên cứu cho thấy các chủng TMUV lưu hành tại Việt Nam có sự tương đồng cao với các chủng ở Trung Quốc 2010 và Thái Lan 2013, do đó trong thời điểm hiện tại có thể tham khảo sử dụng các vắc xin được sản xuất từ các chủng của hai quốc gia này. Tuy nhiên, xét về lâu dài, khi lựa chọn vắc xin nên ưu tiên sử dụng vắc xin được sản xuất từ các chủng có sự tương đồng cao với chủng virus gây bệnh thực địa, đặc biệt là các chủng thuộc nhánh 2 trong phân nhóm clade 2.1. Ngoài vắc xin, chế phẩm kháng thể cũng được đề xuất như một lựa chọn hỗ trợ phòng bệnh, đặc biệt có giá trị trong giai đoạn ngay sau khi vịt nở khi chưa kịp được tiêm phòng đầy đủ.

Trong khuôn khổ đề tài, nhóm nghiên cứu còn xây dựng thành công Dự thảo TCVN bệnh động vật – Quy trình chẩn đoán bệnh do Tembusu virus gây ra ở vịt, trong đó định nghĩa rõ ràng về virus Tembusu, mô tả đặc điểm dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của vịt bị mắc bệnh, đồng thời quy định chi tiết quy trình chẩn đoán trong phòng thí nghiệm bằng RT-PCR theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Về mặt khoa học, đề tài đã lần đầu tiên cung cấp bức tranh đầy đủ và hệ thống về đặc điểm dịch tễ học của bệnh do virus Tembusu tại Việt Nam, xác định tỷ lệ lưu hành trung bình 7,95% tại các trang trại vịt được khảo sát, đồng thời chỉ ra các nhóm nguy cơ cao. Đề tài đã phân lập thành công 03 chủng virus Tembusu có tiềm năng sản xuất vắc xin, công bố 05 trình tự gen trên Genbank và xác định rõ đặc điểm bệnh lý điển hình cũng như các thể bệnh phức tạp khi có đồng nhiễm. Về mặt ứng dụng thực tiễn, nghiên cứu đã xây dựng được quy trình chẩn đoán hai bước RT-LAMP/RT-PCR phù hợp với điều kiện thực địa Việt Nam, xác định bốn yếu tố nguy cơ cốt lõi làm cơ sở khoa học cho các biện pháp phòng dịch có mục tiêu, và xây dựng Dự thảo TCVN về quy trình chẩn đoán bệnh Tembusu ở vịt.

Trong bối cảnh bệnh do virus Tembusu vẫn đang tiếp tục lan rộng và các chủng virus có dấu hiệu biến đổi di truyền ngày càng đáng kể, những kết quả của đề tài này là nền tảng khoa học không thể thiếu cho công tác giám sát dịch bệnh, nghiên cứu và phát triển vắc xin thế hệ mới phù hợp với các chủng địa phương, góp phần bảo vệ ngành chăn nuôi vịt Việt Nam phát triển bền vững trong những năm tới.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng./.