Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 770 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Nghiên cứu hoàn thiện các quy trình sàng lọc, can thiệp thở áp lực dương cho bệnh nhân mắc hội chứng ngưng thở tác nghẽn khi ngủ (17/04/2026)
Ngưng thở khi ngủ là một rối loạn phổ biến và nghiêm trọng, trong đó hoạt động hô hấp ngừng và khởi động lại nhiều lần trong khi ngủ. Hàng trăm lần ngắt quãng và khởi động lại như vậy có thể xảy ra trong một đêm với mỗi lần ngắt quãng kéo dài từ trên 10 giây. Sau mỗi giai đoạn ngưng thở kéo dài, người bệnh bị đẩy ra khỏi giai đoạn ngủ bình thường - giấc ngủ bị gián đoạn và người bệnh mệt mỏi và buồn ngủ thái quá vào ban ngày . Đề tài do TS Nguyễn Thị Hồng làm chủ nhiệm nhiệm vụ.
Việc sàng lọc và chẩn đoán xác định ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở các đối tượng có các triệu chứng nghi ngờ (ngủ ngáy, ngộp thở khi ngủ hay có cơn ngưng thở được người ngủ cùng chứng kiến, người có buồn ngủ quá mức vào ban ngày…), đặc biệt trên các nhóm đối tượng có nguy cơ mắc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ cao (như người thừa cân, béo phì, người có tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, suy tim, tiền đái tháo đường, đái tháo đường, người có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính) hay trên các nhóm lao động nghề nghiệp đặc thù chịu tác động nguy hại đặc biệt cao khi có tình trạng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (như các tài xế lái xe, người điều khiển máy móc phương tiện, nhân viên kiểm soát không lưu) cũng như việc triển khai các can thiệp điều trị trên người được xác định mắc bệnh hiện là một yêu cầu rất cấp thiết và có tính khả thi cao. Việc thực hiện đề tài không những góp phần phát hiện, chẩn đoán chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ ở các đối tượng nghi ngờ mà còn xây dựng, tối ưu và hoàn thiện được quy trình hướng dẫn sàng lọc, phát hiện và can thiệp điều trị bệnh lý này trên các nhóm đối tượng nguy cơ, từ đó giúp giảm tỷ lệ tử vong, giảm các sự cố tai nạn và thảm họa liên quan đến buồn ngủ ban ngày thái quá, giảm gánh nặng cả về kinh tế, y tế và xã hội.
Ban chủ nhiệm nhiệm vụ đã đánh giá thực trạng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ trên các nhóm đối tượng nguy cơ cao trên các nhóm sau:
- Hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ có tỷ lệ mắc rất cao trong tất cả các nhóm đối tượng có nguy cơ cao khảo sát trong nghiên cứu (nhóm người bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường/tiền đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thừa cân/béo phì và COPD). Tỷ lệ OSA trung bình–nặng chiếm tỉ lệ đáng kể, cho thấy gánh nặng bệnh tật lớn và nhu cầu can thiệp điều trị cao. Dữ liệu ghi nhận từ thực tế này cũng tương tự như một số nghiên cứu trong nước và quốc tế.
- Các yếu tố nguy cơ về lối sống và triệu chứng lâm sàng như hút thuốc, uống rượu/bia, sử dụng cà phê/chè buổi tối, ngáy to, cơn ngưng thở chứng kiến, tiểu đêm, ngộp thở khi ngủ, mệt và đau đầu buổi sáng, khô miệng, buồn ngủ ban ngày xuất hiện với tỷ lệ cao ở hầu hết các nhóm, phản ánh gánh nặng triệu chứng cả ban đêm và ban ngày.


Hậu quả và các tác động nguy hại của ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.
- Các thang điểm sàng lọc (ESS, STOP-BANG, Pichot, PSQI) đều tăng điểm ở các nhóm bệnh lý mạn tính, đồng nhất với tỷ lệ OSA cao và rối loạn giấc ngủ trên đa ký hô hấp. Nhóm lái xe có điểm trung bình thấp hơn nhưng vẫn ghi nhận OSA và triệu chứng ở một bộ phận không nhỏ, cho thấy nguy cơ tiềm ẩn đối với mất an toàn giao thông.
- Đa ký hô hấp cho thấy tình trạng thiếu oxy trong ngủ và tăng chỉ số ngáy ở tất cả các nhóm, đặc biệt nổi bật ở COPD và các nhóm có AHI cao, khẳng định sự hiện diện của rối loạn hô hấp khi ngủ có ý nghĩa lâm sàng. Tương tự như một số nghiên cứu có trước, kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương quan của một số triệu chứng với chỉ số AHI ghi nhận qua đa ký hô hấp cấp độ III, khẳng định giá trị chẩn đoán tiêu chuẩn của thiết này.
Các chỉ số cận lâm sàng (glucose, lipid) và huyết áp chủ yếu phản ánh đặc điểm bệnh nền của từng quần thể; sự khác biệt giữa nhóm OSA và không OSA trong cùng một nhóm không thật rõ rệt trong nghiên cứu cắt ngang. Tuy nhiên, sự đồng mắc giữa OSA với tăng huyết áp và rối loạn chuyển hoá vẫn là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng, cần được chú trọng trong chiến lược quản lý tổng thể.
Kết quả mô tả ở trên càng khẳng định việc xây dựng, thực nghiệm, hoàn thiện và triển khai các quy trình sàng lọc và can thiệp OSA một cách chủ động và hệ thống cho các nhóm nguy cơ tại Hải Phòng sử dụng các công cụ đơn giản, cơ động (lưu động, cho phép thăm dò tại nhà – HSAT) là rất cần thiết, đặc biệt cho các bệnh nhân có bệnh lý tim mạch – chuyển hoá, COPD và nhóm lái xe, nhằm giảm gánh nặng bệnh tật và nguy cơ tai biến liên quan đến OSA.
Từ kết quả thực trạng trên nhóm nghiên cứu đã xây dựng và đánh giá quy trình sàng lọc hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi thở:
Nhóm nghiên cứu đã đề xuất quy trình sàng lọc OSA chung như sau;
Bước 1 – Xác định đối tượng đầu vào
Người lớn thuộc ít nhất một trong 6 nhóm nguy cơ (tăng huyết áp, đái tháo đường/tiền đái tháo đường, COPD, rối loạn lipid máu, thừa cân/béo phì, lái xe chuyên nghiệp) hoặc có triệu chứng nghi ngờ OSA (ngáy to, ngưng thở khi ngủ, buồn ngủ ban ngày rõ...).
Bước 2 – Khai thác triệu chứng và yếu tố nguy cơ
Hỏi bệnh nhân về các triệu chứng gợi ý OSA: ngáy to, cơn ngưng thở được chứng kiến, ngộp thở khi ngủ, tiểu đêm, đau đầu buổi sáng, khô miệng khi thức dậy, buồn ngủ ban ngày. Đo BMI, vòng cổ, vòng bụng, huyết áp, ghi nhận tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc, uống rượu/bia.
Bước 3 – Thực hiện 3 thang điểm sàng lọc ESS, STOP-BANG, Berlin
Điền đầy đủ thang điểm ESS, STOP-BANG và bảng câu hỏi Berlin cho tất cả đối tượng nguy cơ. Kết quả được ghi nhận dưới dạng điểm số (ESS, STOP-BANG) và phân loại nguy cơ cao/thấp (Berlin).
Bước 4 – Phân tích giá trị các thang điểm trên các nhóm đối tượng nguy cơ và phân loại “nguy cơ tổng hợp”. Có ba cách tiếp cận chính để tính điểm nguy cơ tổng hợp từ các thang điểm sàng lọc ESS, Berlin và Stop-Bang trong đó cách thứ nhất là gộp theo số thang dương tính, đơn giản nhất, phù hợp với sử dụng trên lâm sàng và sàng lọc cộng đồng (nguy cơ trên đối tượng sàng lọc sẽ được phân thành thấp, trung bình, cao và rất cao)
Bước 5 – Ra quyết định sàng lọc
Nguy cơ thấp (Score_comb = 0, không có triệu chứng gợi ý rõ): tư vấn thay đổi lối sống (giảm cân, hạn chế rượu/bia, bỏ thuốc lá, điều chỉnh giờ giấc ngủ), theo dõi và tái đánh giá định kỳ.
Nguy cơ trung bình (Score_comb = 1 hoặc có ít nhất một triệu chứng gợi ý): chỉ định đa ký hô hấp nếu có điều kiện; trường hợp chưa thực hiện được ngay, cần hẹn làm đa ký sớm và ưu tiên cho những đối tượng có thêm bệnh nền tim mạch – chuyển hoá hay lái xe. Nguy cơ cao và rất cao (Score_comb = 2 và 3, có ngưng thở chứng kiến, buồn ngủ ban ngày rõ hoặc nhiều yếu tố nguy cơ kèm theo): chỉ định đa ký hô hấp ưu tiên trong vòng 1–2 tuần, tuỳ tình trạng bệnh nhân và khả năng sắp xếp dịch vụ.
Bước 6 – Đa ký hô hấp và chẩn đoán xác định: Bệnh nhân được làm đa ký hô hấp đầy đủ để chẩn đoán xác định OSA theo AHI (AHI < 5: không OSA; AHI 5–14: OSA nhẹ; AHI 15–29: OSA trung bình; AHI ≥ 30: OSA nặng). Các trường hợp OSA trung bình–nặng, hoặc OSA nhẹ nhưng có triệu chứng/biến chứng rõ, sẽ được chuyển sang quy trình can thiệp CPAP.
Điểm mạnh của nghiên cứu này là các nhóm đối tượng được lựa chọn theo các nhóm nguy cơ riêng rẽ và tất cả được thực hiện các thang điểm sàng lọc trước khi tiến hành đa ký hô hấp khi ngủ để xác định chỉ số ngưng-giảm thở (AHI). Thăm dò đa ký hô hấp khi ngủ được tiến hành trên tất cả đối tượng bao gồm cả các trường hợp kết quả sàng lọc với các thang điểm cho kết quả âm tính. Kết quả phân tích về giá trị của các thang điểm sàng lọc cho thấy thang điểm STOP-BANG là thang điểm phù hợp sử dụng trong sàng lọc trên nhóm các đối tượng có các yếu tố nguy cơ tim mạch, chuyển hóa (người bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thừa cân/béo phì) và trên nhóm tài xế lái xe. Trên nhóm người bệnh có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, thang điểm Berlin có giá trị sàng lọc cao hơn thang điểm STOP-BANG và thang điểm ESS. Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với kết quả của một số nghiên cứu trên thế giới. nguy cơ cao với các nghiên cứu trên thế giới về giá trị của các thang điểm sàng lọc OSA. Thang điểm STOP-BANG và Berlin bao gồm nhiều yếu tố nguy cơ khách quan như BMI, vòng cổ, tăng huyết áp, tuổi và giới (là các yếu tố nguy cơ độc lập của ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ) có giá trị trong sàng lọc tình trạng ngưng thở tắc nghẽn trên các nhóm đối tượng, đặc biệt là ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ mức trung bình–nặng. Thang điểm Epworth (ESS) có giá trị sàng lọc, phát hiện tình trạng buồn ngủ ban ngày thái quá (EDS) cũng có giá trị trong sàng lọc tình trạng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ đặc biệt là tình trạng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ trung bình–nặng. Thang điểm này kém nhạy hơn trong phát hiện OSA (so với các thang điểm STOP-BANG và thang điểm Epworth) ở những bệnh nhân chưa có triệu chứng buồn ngủ điển hình hoặc đã thích nghi với tình trạng thiếu ngủ kéo dài, và trên các đối tượng có xu hướng khai thấp (giấu) triệu chứng buồn ngủ ban ngày thái quá sợ ảnh hưởng tới công việc nghề nghiệp (với tài xế chuyên nghiệp, đường dài). Kết quả nghiên cứu trên đây tương đối phù hợp với một số nghiên cứu tiến hành trước nghiên cứu này.
Kết quả phân tích chi tiết về giá trị của các thang điểm sàng lọc trên các nhóm đối tượng nguy cơ cao mắc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ hay đối tượng chịu tác động nguy hại rất cao nếu ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ bị bỏ qua, bỏ sót (đối tượng tài xế lái xe trong nghiên cứu này) cho phép xây dựng quy trình sàng lọc ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ trên các nhóm đối tượng này.
Việc AUC của các thang điểm phần nhiều tăng lên khi sử dụng tiêu chuẩn AHI ≥ 15 so với AHI ≥ 5 cũng tương đồng với y văn nghiên cứu của thế giới, cho thấy các thang điểm này đặc biệt hữu ích trong nhận diện nhóm OSA có ý nghĩa lâm sàng rõ rệt (ảnh hưởng tới các tình trạng đồng mắc hiện có và đưa tới hay làm nặng them các vấn đề về tim mạch, chuyển hóa, hô hấp) và cần can thiệp. Các mô hình kết hợp nhiều thang điểm hoặc kết hợp thang điểm với đặc điểm nhân trắc/huyết động đã được đề xuất trong một số nghiên cứu quốc tế nhằm cải thiện khả năng phân loại; kết quả mô hình nguy cơ tổng hợp (Score_comb) trong nghiên cứu này cũng cho thấy AUC cao hơn từng thang điểm đơn lẻ, củng cố xu hướng sử dụng tiếp cận đa yếu tố trong sàng lọc OSA.
Phần lớn các thang điểm và mô hình sàng lọc hiện nay được xây dựng từ quần thể phương Tây hoặc các trung tâm Y học giấc ngủ chuyên sâu, do đó cần được nghiên cứu, xác định, hiệu chỉnh trước khi áp dụng rộng rãi cho các quần thể người bệnh hay đối tượng nguy cơ cụ thể. Đóng góp quan trọng của nghiên cứu này là cung cấp dữ liệu thực tế trên quần thể người bệnh Việt Nam tại Hải Phòng, trải rộng trên nhiều nhóm đối tượng nguy cơ có các bệnh nền khác nhau (tăng huyết áp, đái tháo đường, COPD, rối loạn lipid, thừa cân/béo phì) và trên nhóm có nguy cơ cao khi có tình trạng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (đối tượng tài xế lái xe), từ đó đề xuất các quy trình sàng lọc với các mức điểm cắt phù hợp cho mục tiêu sàng lọc và phù hợp với điều kiện nguồn lực trong nước, tại mỗi địa phương, trong mỗi cơ sở y tế. Những kết quả này có thể là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm tinh chỉnh thêm mô hình dự báo và kiểm định ngoại suy trên các quần thể đích khác.
Từ xây dựng và đánh giá quy trình sàng lọc hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi thở Ban chủ nhiệm đề tài tiến hành xây dựng và thực nghiệm quy trình can thiệp thở áp lực dương trên các nhóm đối tượng nguy cơ như sau:
Từ quy trình can thiệp CPAP được xây dựng trong nghiên cứu không chỉ an toàn, khả thi về mặt tổ chức mà còn mang lại hiệu quả lâm sàng rõ rệt trong thời gian tương đối ngắn (1 tháng). Trước tiên là việc lựa chọn thiết bị “CPAP thông minh” APAP (Auto-titrating Positive Airway Pressure) cho phép đơn giản hóa và giảm tải lượng công việc song vẫn cho hiệu quả rất tích cực như một số nghiên cứu và khuyến cáo trên thế giới đã ghi nhận. Việc kết hợp thiết bị đa ký hô hấp cấp độ III với (Apnealink) với APAP đã cho phép triển khai thực hiện sàng lọc và can thiệp điều trị thực tế trên các nhóm người bệnh, từ đó xây dựng và hoàn thiện các quy trình sàng lọc và can thiệp điều chỉnh, thích ứng với những lưu ý cụ thể trên từng nhóm.
Việc chuẩn hoá các bước lựa chọn thiết bị, loại mask, cỡ mask và thiết lập áp lực đã giúp đa số bệnh nhân dung nạp tốt CPAP, với áp lực trung bình khoảng 8,5–9,0 cmH₂O và ưu thế của mask mũi cỡ trung bình. Điều này phù hợp với các báo cáo quốc tế, trong đó CPAP mũi thường là lựa chọn đầu tay cho bệnh nhân OSA do dung nạp tốt và ít rò khí hơn.
Về hiệu quả điều trị, AHI giảm sâu từ ngưỡng trung bình–nặng xuống mức bình thường và gần bình thường ở tất cả các nhóm nguy cơ, kèm theo cải thiện đáng kể triệu chứng buồn ngủ ban ngày và mệt mỏi. Điều này tương đồng với nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy CPAP có khả năng phục hồi kiến trúc giấc ngủ, giảm buồn ngủ và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân OSA. Ngưỡng chỉ định can thiệp CPAP trên các nhóm đối tượng nguy cơ có thể hạ thấp xuống nhóm có chỉ số AHI tương ứng với OSA mức nhẹ. Các nghiên cứu thuần tập tiến cứu theo dõi dài hạn trong y văn là tiền đề cho một số khuyến cáo thực hành cho thấy nguy cơ tim mạch – chuyển hóa giảm có ý nghĩa trên các nhóm người bệnh OSA ở các mức độ trầm trọng khác nhau.
Đáng chú ý, nhóm lái xe – vốn có nguy cơ tai nạn giao thông do buồn ngủ – cũng ghi nhận cải thiện rõ rệt về ESS và Pichot, gợi ý lợi ích tiềm năng của CPAP trong giảm nguy cơ tai nạn liên quan đến OSA.
Các chỉ số huyết áp và chuyển hoá (glucose, lipid) sau 1 tháng CPAP cho thấy xu hướng kiểm soát tốt hơn, đặc biệt ở nhóm tăng huyết áp và đái tháo đường, dù thời gian theo dõi còn ngắn để ghi nhận thay đổi sâu về chuyển hoá. Những kết quả này phù hợp với hướng nghiên cứu cho rằng CPAP có thể góp phần cải thiện huyết áp ban đêm, giảm biến thiên huyết áp và hỗ trợ kiểm soát rối loạn chuyển hoá, nhất là khi kết hợp với các chiến lược điều trị chuẩn khác. Tuy nhiên, để khẳng định rõ hơn tác động của CPAP lên các chỉ số tim mạch – chuyển hoá, cần những nghiên cứu theo dõi dài hạn hơn và có nhóm chứng.
Như vậy, quy trình can thiệp CPAP điều trị OSA được đề xuất trong đề tài – bao gồm quy trình chung và các lưu đồ riêng cho từng nhóm nguy cơ – có thể được xem là gợi ý thực hành cho các cơ sở lâm sàng tại Hải Phòng và các địa phương có điều kiện tương tự. Việc áp dụng rộng rãi quy trình này cần đi kèm đào tạo nhân lực, chuẩn hoá trang thiết bị và thiết lập hệ thống theo dõi tuân thủ CPAP lâu dài, qua đó tối ưu hoá lợi ích điều trị cho bệnh nhân OSA trong cộng đồng./.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.
- Nghiên cứu biên soạn bảng nguồn và sử dụng kỹ thuật số để đo lường nền... (29/06/2026)
- Tác động của cấu trúc thị trường tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở... (26/06/2026)
- Công tác quản lý hoạt động phổ biến phim trên không gian mạng (24/06/2026)
- Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2025: Nỗ lực hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã... (22/06/2026)
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và đề xuất giải pháp phòng chống bệnh... (18/06/2026)
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó mối đe dọa an ninh môi trường do... (17/06/2026)
