Chuyên mục
| Đang trực tuyến : | 757 |
| Tổng truy cập : | 57,998 |
Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN
Sản xuất thử nghiệm vịt siêu trứng VST tại một số tỉnh Đồng bằng Sông Cửu long (21/05/2026)
Năm 2023, Phân viện Chăn nuôi và Thú y Nam Bộ đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt triển khai nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Sản xuất thử nghiệm vịt siêu trứng VST tại Một số tỉnh Đồng bằng Sông Cửu long”, dự án do TS. Lê Thanh Hải làm chủ nhiệm. Dự án được triển khai giai đoạn 2023–2025 nhằm chọn lọc, ổn định hai dòng vịt chuyên trứng VST được chọn tạo thành công từ đề tài “Chọn tạo dòng vịt chuyên trứng có năng suất và chất lượng trứng cao phục vụ xuất khẩu trứng vịt muối tại ĐBSCL”, đồng thời hoàn thiện quy trình chăn nuôi và xây dựng mô hình chuyển giao vào sản xuất. Dự án gồm ba nội dung chính: (1) Chọn lọc ổn định năng suất hai dòng vịt VST thế hệ 6 và 7; (2) Hoàn thiện quy trình chăn nuôi vịt bố mẹ VST sinh sản; (3) Xây dựng mô hình nuôi vịt bố mẹ và vịt đẻ trứng thương phẩm tại các địa phương. Nội dung (1) và (2) được thực hiện tại Trại vịt giống VIGOVA, nội dung (3) triển khai tại 8 nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp.
Các nghiên cứu trong nước cho thấy Việt Nam đã hình thành được nền tảng tương đối đầy đủ về chọn lọc di truyền vịt, từ chọn lọc dựa vào kiểu hình đến chọn lọc dựa trên giá trị giống (BLUP/MT-BLUP), từ tập trung sinh trưởng (khối lượng cơ thể, dày thịt ức) đến các tính trạng sinh sản (năng suất trứng, khối lượng trứng, tỷ lệ phôi – nở) và một số chỉ tiêu chất lượng trứng. Tuy vậy, xu hướng chung vẫn là ưu tiên nâng giá trị trung bình của một số tính trạng chính, trong khi các nghiên cứu chuyên sâu về bình ổn năng suất, giảm biến động, và tích hợp chặt chẽ các chỉ tiêu chất lượng trứng (bao gồm các chỉ tiêu như khối lượng và tỷ lệ lòng đỏ) trong chọn lọc đa tính trạng còn chưa thật phong phú. Đây là khoảng trống khoa học quan trọng, đồng thời là căn cứ thực tiễn để tiếp tục phát triển các chương trình chọn lọc theo hướng vừa nâng năng suất vừa tăng tính ổn định, làm cơ sở cho các nghiên cứu và ứng dụng; Tại Việt Nam đã tạo ra nhiều tổ hợp vịt bố mẹ và thương phẩm có năng suất cao, góp phần quan trọng vào chuyển giao tiến bộ kỹ thuật ra sản xuất. Tuy nhiên, xét theo xu thế công bố, các nghiên cứu tổ hợp lai vẫn tập trung nhiều hơn ở nhóm vịt hướng thịt; trong khi đó số lượng nghiên cứu về tổ hợp lai theo hướng trứng, đặc biệt các tổ hợp gắn với mục tiêu đồng thời “năng suất cao – tiêu tốn thấp – chất lượng trứng và chỉ tiêu ấp nở tốt – thích nghi sinh thái” vẫn còn hạn chế trong những năm gần đây. Đây là cơ sở thực tiễn cho việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và phát triển các tổ hợp lai vịt hướng trứng nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất trong điều kiện vùng sinh thái đa dạng và biến động.
Hai dòng vịt được chọn là: Dòng trống VST1, đàn giống vịt 1 ngày tuổi thế hệ 6 là 300 trống và 800 mái, thế hệ 7 là 250 trống và 700 mái; Dòng mái VST2, đàn giống vịt 1 ngày tuổi thế hệ 6 là 500 trống và 1.500 mái, thế hệ 7 là 400 trống và 1.200 mái .Hai dòng vịt được là sản phẩm nghiên cứu thuộc đề tài “Chọn tạo dòng vịt chuyên trứng có năng suất và chất lượng trứng cao phục vụ xuất khẩu trứng vịt muối tại ĐBSCL”. Sau 5 thế hệ chọn tạo dòng VST1 đạt 286,39 quả/mái/năm, khối lượng trứng 68,01 g và tỷ lệ lòng đỏ 35,16%; dòng VST2 đạt 280,68 quả/mái/năm, 72,45 g và 34,65%. Chọn lọc thế hệ 6 và 7 nhằm ổn định di truyền ngoại hình và một số chỉ tiêu năng suất, chất lượng trứng của hai dòng vịt . Nghiên cứu được tiến hành tại trại vịt giống VIGOVA, phường Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh: Chọn lọc ổn định năng suất hai dòng vịt VST1, VST2; thực hiện thí nghiệm xác định mức mức ăn phù hợp cho vịt con và vịt hậu bị trên đàn vịt bố mẹ để hoàn thiện quy trình chăn nuôi. Mô hình chăn nuôi vịt VST bố mẹ và thương phẩm tại Vĩnh Long và Đồng Tháp.

Dòng vịt trống VST1.
Hai dòng vịt được chọn lọc cơ bản ổn định về di truyền, năng suất, chất lượng trứng và ngoại hình, đáp ứng mục tiêu của dự án. Dòng trống VST1 thế hệ 7 có 500 mái đẻ, lông màu cánh sẻ nhạt, năng suất 291,66 quả/mái/52 tuần đẻ, khối lượng trứng 68,92 g, tỷ lệ lòng đỏ 34,72%; dòng mái VST2 thế hệ 7 có 1.000 mái đẻ, lông màu cánh sẻ đậm, năng suất 281,15 quả/mái/52 tuần đẻ, khối lượng trứng 72,11 g, tỷ lệ lòng đỏ 35,16%. Hai dòng VST1, VST2 cùng vịt đẻ trứng thương phẩm VST12 được Cục Chăn nuôi công nhận là Tiến bộ kỹ thuật, khẳng định tính ổn định di truyền, năng suất cao và khả năng ứng dụng rộng rãi trong sản xuất.
Kết quả theo dõi sau hai thế hệ chọn lọc cho thấy hai dòng vịt VST1 và VST2 đã ổn định về năng suất, chất lượng trứng và đặc điểm ngoại hình, đáp ứng yêu cầu của chương trình chọn giống. Dòng VST1 có màu lông cánh sẻ nhạt, sinh trưởng tốt; khối lượng cơ thể đạt 1.002,55 g (trống) và 972,63 g (mái) ở 8 tuần tuổi, tăng lên 1.228,09 g và 1.197,72 g ở 17 tuần tuổi; tuổi đẻ 117 ngày; năng suất trứng 52 tuần đạt 291,66 quả/mái; tiêu tốn thức ăn 2,13 kg/10 trứng; khối lượng trứng 68,92 g; tỷ lệ lòng đỏ 34,72%; tỷ lệ trứng có phôi 94,66% và tỷ lệ nở 76,96%. Dòng VST2 có màu lông tương tự nhưng sẫm hơn; khối lượng cơ thể ở 8 và 17 tuần tuổi lần lượt đạt 1.090,65– 1.355,83 g (trống) và 1.045,57–1.257,29 g (mái); tuổi đẻ 119 ngày; năng suất trứng 281,15 quả/mái/52 tuần; tiêu tốn 2,23 kg thức ăn/10 trứng; khối lượng trứng 72,11 g; tỷ lệ lòng đỏ 35,16%; tỷ lệ trứng có phôi 94,49% và tỷ lệ nở 76,30%.
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình chăn nuôi đã xác định mức ăn phù hợp giúp khống chế khối lượng cơ thể giai đoạn vịt con và hậu bị, với mức ăn cho vịt con và hậu bị cao hơn khoảng 6% so với quy trình trước đây. Quy trình được hoàn thiện, có tính khoa học, dễ áp dụng, được Hội đồng khoa học nghiệm thu và ban hành để chuyển giao đồng bộ cùng con giống Quy trình chăn nuôi vịt bố mẹ VST được hoàn thiện và nghiệm thu, được hội đồng chuyên môn đánh giá cao về tính khoa học, dễ áp dụng và phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương.
Xây dựng thành công 2 mô hình chăn nuôi vịt bố mẹ và 2 mô hình chăn nuôi vịt đẻ trứng thương phẩm VST12 tại Vĩnh Long và Đồng Tháp, đều đạt kết quả tốt. Các mô hình cho thấy năng suất trứng cao, tỷ lệ trứng có phôi và nở đạt chuẩn giống, hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu quả chăn nuôi cao so với các giống phổ biến, chứng minh khả năng thích nghi và tiềm năng nhân rộng của giống VST trong điều kiện sản xuất vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Các mô hình chăn nuôi vịt VST được triển khai tại Vĩnh Long và Đồng Tháp với quy mô 1.000–1.350 mái sinh sản/hộ, tỷ lệ nuôi sống trên 95%. Mô hình nuôi vịt bố mẹ đạt năng suất 280,58–285,51 quả/mái/năm; tiêu tốn thức ăn 2,10–2,19 kg/10 trứng; khối lượng trứng 72,00–72,18 g; tỷ lệ trứng giống 90,37–91,63% và tỷ lệ nở 75,47–78,10%. Mô hình nuôi vịt đẻ trứng thương phẩm đạt năng suất 285,01–287,64 quả/mái/năm; tiêu tốn thức ăn 1,90–1,95 kg/10 trứng; tỷ lệ trứng loại 1 đạt 91,37– 92,03%. Các chỉ tiêu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế đều đạt và vượt yêu cầu đề ra, khẳng định khả năng áp dụng và nhân rộng trong sản xuất.
Kết quả hạch toán thu–chi của mô hình nuôi vịt bố mẹ VST cho thấy cả bốn hộ tham gia đều đạt lợi nhuận dương sau một chu kỳ 52 tuần đẻ. Điều này chứng tỏ mô hình có hiệu quả chăn nuôi tốt và có khả năng áp dụng ổn định trong điều kiện sản xuất thực tế ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Về cơ cấu chi phí, tổng chi của các hộ dao động từ 796,35 đến 1.074,40 triệu đồng. Trong đó, chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 88% tổng chi. Điều này là phù hợp trong các mô hình chăn nuôi gia cầm công nghiệp, cho thấy hiệu quả sử dụng thức ăn là yếu tố quyết định. Các khoản chi còn lại như con giống, thú y, chuồng trại, công lao động và các chi phí khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, cho thấy chi phí đầu tư tương đối hợp lý trong chăn nuôi vịt hướng trứng. Về nguồn thu, tổng thu của các hộ đạt từ 769,73 đến 1.101,34 triệu đồng. Trứng giống là nguồn thu chính, chiếm khoảng 92–93% tổng doanh thu, trong khi các khoản thu phụ từ trứng loại, vịt hậu bị loại và vịt đẻ loại chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhưng vẫn góp phần bù đắp chi phí. Cơ cấu doanh thu này phù hợp với mục tiêu của mô hình là sản xuất trứng giống chất lượng cao để sản xuất vịt đẻ trứng thương phẩm. Lợi nhuận của các hộ dao động từ 25,46 đến 91,79 triệu đồng trong cả chu kỳ, chưa tính phần công đã đưa vào hạch toán trong nội dung chi. Nếu tính theo số mái đẻ bình quân, lợi nhuận đạt khoảng 27–70 nghìn đồng trên mỗi mái trong một chu kỳ. Trong bốn hộ, ông Nguyễn Văn Sô đạt mức lợi nhuận cao nhất, trong khi hộ Phạm Văn Lành có lợi nhuận thấp hơn có một phần nguyên nhân đó là sự khác biệt về điều kiện chuồng trại và kinh nghiệm của chủ hộ. Sự khác biệt giữa các hộ được phản ánh rõ thông qua các chỉ tiêu giá thành và lãi trên trứng giống. Giá thành sản xuất 1 quả trứng giống dao động từ 2.730 đến 2.892 đồng; lãi thuần đạt từ 108 đến 270 đồng mỗi quả. Các hộ tại Vĩnh Long đạt giá thành thấp hơn và lãi cao hơn so với các hộ tại Đồng Tháp. Sự khác biệt về hiệu quả chăn nuôi giữa các hộ chủ yếu xuất phát từ ba nhóm yếu tố: mức độ kiểm soát và sử dụng thức ăn, năng suất sinh sản của đàn mái (tỷ lệ đẻ, tỷ lệ Trứng giốngvà tỷ lệ nở) và điều kiện chuồng trại – kỹ thuật nuôi dưỡng. Những hộ quản lý tốt các yếu tố này đều đạt hiệu quả cao hơn dù các yếu tố đầu vào tương đương
Dự án đã hoàn thành đầy đủ các nội dung theo thuyết minh, đạt và vượt mục tiêu đề ra; công bố 02 bài báo khoa học, đào tạo 03 thạc sĩ và tổ chức 01 hội thảo khoa học với hơn 100 đại biểu tham dự. Kết quả dự án có giá trị khoa học và thực tiễn cao, góp phần hoàn thiện bộ giống vịt siêu trứng VST và thúc đẩy chuyển giao hiệu quả vào sản xuất tại các địa phương.
Nhóm nghiên cứu đã kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa kết quả nghiên cứu vào chương trình khuyến nông trung ương, nhằm tổ chức chuyển giao và nhân rộng giống vịt siêu trứng VST ra các vùng sinh thái trong cả nước, đặc biệt là các vùng có tiềm năng phát triển chăn nuôi vịt hàng hóa.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Hải Phòng.
- Nghiên cứu biên soạn bảng nguồn và sử dụng kỹ thuật số để đo lường nền... (29/06/2026)
- Tác động của cấu trúc thị trường tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở... (26/06/2026)
- Công tác quản lý hoạt động phổ biến phim trên không gian mạng (24/06/2026)
- Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2025: Nỗ lực hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã... (22/06/2026)
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và đề xuất giải pháp phòng chống bệnh... (18/06/2026)
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó mối đe dọa an ninh môi trường do... (17/06/2026)
