Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang trực tuyến : 3059
Tổng truy cập : 57,998

Thông tin kết quả nhiệm vụ KH&CN

Thực trạng nghiên cứu và phát triển (R&D) và năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp thuộc một số ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (07/09/2026)

Nghiên cứu và phát triển (R&D), năng lực đổi mới sáng tạo (innovation capacity) và năng lực công nghệ sản xuất là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển của một doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động (R&D), năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp công nghiệp tỉnh Quảng Ninh nói riêng còn rất nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Các doanh nghiệp trên địa bàn cả nước nói chung và các doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh nói riêng, muốn phát triển thì không có con đường nào khác là phải thúc đẩy các hoạt động R&D, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực công nghệ sản xuất.

 

 

Thực trạng ứng dụng công nghệ số vào hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại.

Xác định được vai trò của hoạt động KH&CN là động lực then chốt để phát triển, thời gian qua, Quảng Ninh luôn ưu tiên đầu tư về nguồn lực, ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển KH&CN; hằng năm dành 4-5% tổng chi ngân sách thường xuyên cho hoạt động ứng dụng, chuyển giao KHCN. Trong 3 năm (2017-2019) tỉnh đã 1 chi 2.693 tỷ đồng cho hoạt động KH&CN, chiếm 4,9% tổng chi thường xuyên ngân sách của tỉnh. Nhiều cơ chế, chính sách vượt trội đã được triển khai: tiêu biểu như Nghị quyết số 148 năm 2018 của HĐND tỉnh về hỗ trợ cho 10 lượt doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 43 của HĐND tỉnh năm 2016 đã hỗ trợ cho 272 lượt tổ chức, cá nhân trong hoạt động KHCN với tổng kinh phí hỗ trợ là 4.660 tỷ đồng. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp hiện nay trên địa bàn Tỉnh là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm trên 90%), trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu, năng lực công nghệ rất hạn chế do vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn khá khiêm tốn, chưa có nhiều bằng sáng chế và khả năng tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, công cụ, cải tiến quy trình và sản phẩm mới hoặc nhận chuyển giao công nghệ sản xuất mới còn rất hạn chế. Nhân lực chất lượng phục vụ cho hoạt động R&D và năng lực sáng tạo còn thiếu. Nguyên nhân của những hạn chế này có thể là do các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa thấy được vai trò của R&D và năng lực đổi mới sáng tạo đối với kết quả kinh doanh. Các doanh nghiệp chắc chắn sẽ quan tâm đầu tư nhiều hơn cho R&D và đổi mới công nghệ sản xuất nếu họ thấy được các bằng chứng về thực trạng cũng như những tác động của các hoạt động này đến kết quả sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ thực tế đó, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tiến hành triển khai đề tài Thực trạng nghiên cứu và phát triển (R&D) và năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp thuộc một số ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh do TS Đặng Thu Hương làm chủ nhiệm.

Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra được trong các ngành được nghiên cứu, ngành kim khí là ngành có năng lực đổi mới sáng tạo cao nhất tương đương với 57% điểm tối đa; thứ hai là ngành khoáng và phi kim loại có điểm số tương đương 44,2% điểm tối đa; thứ ba là ngành sản xuất hàng tiêu dùng và sản phẩm gỗ có điểm số tương đương 38,9% điểm tối đa; và thấp nhất là ngành than có điểm số tương đương 24,5% điểm tối đa.

Theo từng tiêu chí, kết quả nghiên cứu, phát triển sản phẩm ngành kim khí là ngày có điểm số tốt nhất, đạt 75,7% điểm tối đa; Ngành kim khi cũng là ngành có năng lực tốt nhất theo tiêu chí kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ, đạt 50% điểm tối đa; và tiêu chí năng lực liên kết hợp tác nghiên cứu, phát triển, đạt 67,1% điểm tối đa; Ngành khoáng và phi kim loại là ngành có điểm số cao nhất theo tiêu chí năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp, đạt 44,2% điểm tối đa. Ngành kim khí là ngành có hoạt động đổi mới sản phẩm phổ biến nhất và ở mức độ cao nhất, tiếp đến là ngành sản xuất hàng tiêu dùng và sản phẩm từ gỗ, thứ ba là ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng và phi kim loại. Vì vậy, trong thời gian tới, các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ninh cần có giải pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới sản phẩm ở hai bậc cao hơn (sản phẩm mới về tính năng và sản phẩm hoàn toàn mới trên thị trường). Các doanh nghiệp trong hai ngành/lĩnh vực kim khí, sản xuất sản phẩm từ khoáng và phi kim loại là những ngành thành công nhất trong việc thương mại hóa sản phẩm mới. Hay nói cách khách, đây là những ngành các sản phẩm mới đóng vai trò khá quan trọng trong việc tạo ra doanh số. Đối với ngành than, hoạt động đổi mới sáng tạo về công nghệ sản xuất có thể là quan trọng hơn đổi mới công nghệ sản phẩm. Tính theo tiêu chí nghiên cứu và phát triển công nghệ mới thì ngành kim khí là ngành có trình độ đổi mới công nghệ cao nhất, tiếp đến là ngành sản xuất hàng tiêu dùng và sản phẩm gỗ, kế đến là ngành sản xuất khoáng sản và phi kim loại; cuối cùng là ngành than. Theo tiêu chí năng lực hợp tác nghiên cứu thì các doanh nghiệp trong ngành kim khí có năng lực đổi mới sáng tạo tốt nhất, tiếp đến là các doanh nghiệp trong ngành than; thứ ba là các doanh nghiệp trong ngành sản xuất hàng tiêu dùng và sản phẩm gỗ, và cuối cùng là các doanh nghiệp trong ngành sản xuất khoáng và phi kim loại. Các doanh nghiệp trong ngành kim khí là những doanh nghiệp tiên phong nhất trong việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ số; tiếp đến là các doanh nghiệp trong ngành than; thứ ba là các doanh nghiệp trong ngành khoáng và sản phẩm phi kim loại; nhóm it chủ động nhất là các doanh nghiệp trong ngành sản xuất sản hàng tiêu dùng và các sản phẩm từ gỗ. Về mức độ phổ biến trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số thì ngành khoáng và phi kim loại đứng đầu, tiếp đến là ngành kim khí, thứ ba là ngành sản xuất hàng tiêu dùng và sản phẩm gỗ; cuối cùng là ngành than; tuy vậy xét theo mức độ áp dụng thì có thứ 186 tự ngược lại, ngành than đứng đầu, tiếp đến là ngành hàng tiêu dùng và sản phẩm gỗ; thứ ba là ngành kim khí; và cuối cùng là khoáng và phi kim loại. Chỉ số năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất sản hàng tiêu dùng và sản phẩm gỗ chỉ tương đương với 39% tổng số điểm tối đa; trong đó cao nhất là tiêu chí năng lực liên kết hợp tác nghiên cứu, phát triển tương đương 56% điểm tối đa; tiếp đến là năng lực chuyển đổi số tương đương 42% điểm tối đa; thứ ba là kết quản nghiên cứu phát triển sản phẩm tương đương 35% điểm tối đa; và thấp nhất là kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ tương đương 31% điểm tối đa. Chỉ số năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp trong ngành than chỉ tương đương với 24% tổng số điểm tối đa; trong đó cao nhất là tiêu chí năng lực liên kết hợp tác nghiên cứu, phát triển tương đương 64% điểm tối đa; tiếp đến là năng lực chuyển đổi số tương đương 29% điểm tối đa; thứ ba là kết quản nghiên cứu phát triển công nghệ tương đương 25% điểm tối đa; và thấp nhất là kết quả nghiên cứu, phát triển sản phẩm tương đương 0% điểm tối đa. Chỉ số năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp trong ngành kim khí tương đương với 76% tổng số điểm tối đa; trong đó cao thứ ba là kết quản nghiên cứu phát triển sản phẩm tương đương 76% điểm tối đa; thứ hai là tiêu chí năng lực liên kết hợp tác nghiên cứu, phát triển tương đương 67% điểm tối đa; thứ ba là kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ tương đương 50% điểm tối đa; và thấp nhất là chỉ tiêu tiếp đến là năng lực chuyển đổi số tương đương 42% điểm tối đa. Chỉ số năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp trong ngành ngành sản xuất sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại chỉ tương đương với 44% tổng số điểm tối đa; trong đó cao nhất là tiêu chí năng lực liên kết hợp tác nghiên cứu, phát triển tương đương và kết quả nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới cùng đạt 54% điểm tối đa; tiếp đến là năng lực chuyển đổi số tương đương 44% điểm tối đa; thấp nhất là là kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ tương đương 30% điểm tối đa. Cũng theo kết quả đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất thuộc các lĩnh vực ưu tiên thì nhóm năng lực nghiên cứu và phát triển ngành sản xuất kim khí chiếm số điểm cao nhất: 9,04/17 điểm, tương đương với 53,17% tổng số điểm tối đa; đứng thứ hai là lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại: 7.58 điểm, tương đương với 44,5%; đứng thứ ba và thứ tư lần lượt là lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và sản phẩm gỗ: 7,06 và 6,96 điểm, tương đương với 48,5% và 40,9%. Tuy nhiên trong 4 ngành khảo sát về năng lực nghiên cứu và phát triển thì tiêu chí về nguồn nhân lực đều chiếm số điểm cao nhất trong các tiêu chí thuộc nghiên cứu và phát triển và hạ tầng cho nghiên cứu phát triển thì có ¾ lĩnh vực là không đạt được điểm nào, trừ lĩnh vực sản xuất than

Từ đánh giá thực trạng nhóm nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đó là:

(1) Giải pháp chung: Hoàn thiện chính sách: Xây dựng chính sách hỗ trợ R&D, đổi mới sáng tạo và đổi mới công nghệ theo từng ngành, phù hợp đặc thù Quảng Ninh; đơn giản hóa thủ tục, tăng hỗ trợ tài chính, tín dụng và chuyển giao công nghệ; Xây dựng chiến lược đổi mới sáng tạo: Doanh nghiệp cần xây dựng quy trình từ phát hiện cơ hội, hình thành và thử nghiệm ý tưởng đến phát triển, thương mại hóa sản phẩm; hình thành trung tâm/quỹ ươm tạo nội bộ; Đổi mới quản trị và nâng cao nhân lực: Xây dựng văn hóa sáng tạo, khuyến khích sáng kiến, đổi mới cơ chế đánh giá–khen thưởng; đào tạo và thu hút nhân lực KH&CN chất lượng cao; Phát triển sản xuất xanh: Khuyến khích đổi mới thiết bị, công nghệ tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên hiệu quả, sản xuất sạch hơn và giảm tác động môi trường; Đổi mới quy trình sản xuất: Áp dụng quản trị tinh gọn, tự động hóa và đồng bộ hóa các khâu từ nguyên liệu, sản xuất đến kiểm tra chất lượng nhằm giảm chi phí, thời gian và thất thoát; Mở rộng mạng lưới hợp tác: Tăng cường liên kết với viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hiệp hội và đối tác trong, ngoài nước để tiếp nhận công nghệ, tri thức và nhân lực; Thúc đẩy chuyển đổi số và CNTT: Số hóa quy trình quản lý và sản xuất, ứng dụng dữ liệu, tự động hóa và các công nghệ số để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; Tăng đầu tư cho R&D: Thành lập/củng cố bộ phận R&D, tăng đầu tư nhân lực, thiết bị và xây dựng kế hoạch R&D gắn với chiến lược sản phẩm, thị trường và lợi thế của doanh nghiệp.

(2) Giải pháp theo ngành/lĩnh vực: Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm gỗ: Tăng tự động hóa, hiện đại hóa dây chuyền, tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; Doanh nghiệp sản xuất than: Đổi mới công nghệ khai thác theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa, an toàn và thân thiện môi trường; tăng hợp tác chuyển giao công nghệ, bảo trì dự đoán và kiểm toán, tiết kiệm năng lượng; Doanh nghiệp sản xuất kim khí: Tập trung phát triển sản phẩm phục vụ các ngành có lợi thế của tỉnh; đổi mới công nghệ, xây dựng văn hóa sáng tạo, tăng liên kết với viện/trường và đầu tư cho R&D, marketing, mở rộng thị trường; Doanh nghiệp sản xuất khoáng phi kim: Nâng cao chất lượng nhân lực R&D, đưa năng lực đổi mới sáng tạo vào tiêu chí đánh giá–khen thưởng; tăng liên kết với viện nghiên cứu, trường đại học và các đối tác công nghệ để lựa chọn, ứng dụng công nghệ phù hợp.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu dự án tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng./.